Đây là một trong những điểm nhấn trong dự thảo các văn kiện và là kỳ vọng của nhân dân ta, cũng là khát vọng mà nhiều dân tộc trên thế giới phấn đấu thực hiện. 

Góc nhìn quốc tế về hạnh phúc

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20-3 do Bhutan khởi xướng được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết số 66/281 năm 2012 và đã được các thành viên Liên hợp quốc, trong đó có Việt Nam cam kết thực hiện. Ngày 20-3 hàng năm được được chọn làm ngày Quốc tế Hạnh phúc bởi ngày này là ngày đặc biệt trong năm, khi mặt trời nằm ngang đường xích đạo. Vào thời điểm này độ dài ngày đêm bằng nhau, đó là biểu tượng cho sự cân bằng giữa âm và dương, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ước mơ và hiện thực. Ngày Quốc tế Hạnh phúc (International Day of Happiness) truyền tải thông điệp rằng cân bằng và hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.

Trong khoảng mấy thập niên gần đây, các nghiên cứu định lượng về hạnh phúc theo hướng tiếp cận xã hội học có xu hướng được coi trọng hơn. Lý do đáng kể nhất để giải thích hiện tượng này là xã hội có nhu cầu lượng hóa và so sánh mức độ hạnh phúc của các nhóm xã hội khác nhau trong cùng một quốc gia và chỉ số hạnh phúc của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Trong số những nghiên cứu định lượng đã công bố được cộng đồng thế giới và giới khoa học quan tâm, đáng chú ý hơn cả là Báo cáo chỉ số Hạnh phúc hành tinh (Happy Planet Index - HPI) thuộc Quỹ Kinh tế mới (New Economics Foundation) có trụ sở chính tại Vương quốc Anh, Báo cáo của Hiệp hội điều tra và nghiên cứu thị trường Win/Gallup International thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) và Báo cáo Hạnh phúc thế giới (World Happiness Report) của Mạng lưới các giải pháp phát triển bền vững SDSN thuộc Liên hợp quốc phối hợp với Viện nghiên cứu Trái đất thuộc Đại học Columbia, Mỹ, thực hiện.

leftcenterrightdel
Gia đình nhiều thế hệ chung sống hạnh phúc. Ảnh: TƯỜNG VY. 

Báo cáo Hạnh phúc thế giới đo đạc mức độ hạnh phúc các quốc gia dựa vào 8 tiêu chí: Một là, GDP bình quân đầu người tính theo sức mua ngang giá. Hai là, số năm sống khỏe mạnh so với tuổi thọ trung bình. Ba là, hỗ trợ xã hội. Bốn là, tự do lựa chọn cuộc sống. Năm là, sự rộng lượng. Sáu là, cảm nhận về tham nhũng. Bảy là, phản ứng tích cực. Tám là, phản ứng tiêu cực. Đại lượng cơ bản đánh giá hạnh phúc được báo cáo này sử dụng là mức độ hài lòng đối với đời sống (Life satisfaction), được đo bằng thang điểm 10 từ “cực kỳ không hài lòng” đến “cực kỳ hài lòng”. Độ hài lòng của người dân trong các quốc gia được xem xét dựa trên sự đánh giá của mỗi cá nhân về cuộc sống của chính họ, điều được coi là quan trọng nhất trong nghiên cứu hạnh phúc.

Quỹ Kinh tế mới thì đưa ra khái niệm “Chỉ số Hạnh phúc hành tinh” (HPI) và 3 năm công bố một lần HPI của mọi quốc gia. Hệ thống "Chỉ số Hạnh phúc hành tinh" xếp hạng hơn 150 quốc gia trên toàn cầu dựa vào cơ sở đánh giá chất lượng cuộc sống hạnh phúc lâu dài và bền vững mà các quốc gia tạo ra cho người dân ở đó trên một đơn vị sản phẩm tạo ra từ môi trường. Nói cách khác, chỉ số này thể hiện hiệu quả mà các nước biến những nguồn lực có hạn trên trái đất thành chất lượng cuộc sống của công dân nước đó. "Chỉ số Hạnh phúc hành tinh" gồm ba tiêu chí: Mức độ hài lòng với cuộc sống, tuổi thọ trung bình và dấu chân sinh thái.

Liên hợp quốc khuyến khích các quốc gia cũng như các tổ chức nhận thức về tầm quan trọng của hạnh phúc trong khi xây dựng chính sách công, cũng như nhìn nhận hạnh phúc như một mục tiêu mang tính toàn cầu.

Trong những công trình nghiên cứu của các tác giả phương Tây, hạnh phúc thường được giải thích là sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân trong một bối cảnh xã hội cụ thể, bao gồm các nhu cầu về vật chất, tinh thần, môi trường tự nhiên và xã hội… Hạnh phúc là mức độ một người đánh giá tổng thể về chất lượng cuộc sống hiện tại của mình, hay nói các khác đi là mức độ người đó thấy hài lòng về cuộc sống của mình (Life satisfaction). Khái niệm “hài lòng với cuộc sống” có ý nghĩa tương tự và thường được sử dụng như khái niệm “hạnh phúc”.

Con người có thể tìm kiếm và trải nghiệm hạnh phúc. Con người ở các nền văn hóa khác nhau có thể trải nghiệm hạnh phúc rất khác nhau. Ở các nền văn hóa thuộc châu Âu và Bắc Mỹ thường được khuyến khích khẳng định cái tôi của mình và chủ động tìm kiếm hạnh phúc cá nhân, trong khi ở châu Á, các cá nhân được khuyến khích tìm các mô hình hạnh phúc được thừa nhận bằng nhiều người. Nghiên cứu so sánh về hạnh phúc, người ta nhận thấy các cư dân ở châu Á có xu hướng điều chỉnh hành vi của mình theo hướng mong đợi của xã hội nhiều hơn ở Bắc Mỹ và châu Âu. Vì vậy, những chỉ báo về hạnh phúc ở nền văn hóa Bắc Mỹ là những thành tích cá nhân và sự tự trọng. Còn ở châu Á, những yếu tố về sự hài hòa xã hội và thực hiện nghĩa vụ có thể là chỉ báo tốt hơn. Rõ ràng quan niệm về hạnh phúc là không giống nhau giữa các nền văn hóa.  (Theo cuốn “Hạnh phúc của người Việt Nam: Khái niệm, cách tiếp cận và chỉ số đánh giá” của PGS.TS Xã hội học Lê Ngọc Văn, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.)

Kinh nghiệm xây dựng chỉ số hạnh phúc ở một số nước Bắc Âu

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, TS Nguyễn Thị Hường, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Hành chính cho biết: Mỗi quốc gia đều có những sự khác biệt về thể chế chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội cũng như nền tảng văn hoá, điều này sẽ chi phối quan niệm về hạnh phúc, một quan niệm vốn mang ý nghĩa trừu tượng, định tính. Vì thế, nhìn chung sẽ rất khó mang kinh nghiệm của quốc gia này để áp dụng hoàn toàn vào quốc gia khác. Tuy nhiên, kết quả đánh giá chỉ số hạnh phúc sẽ được coi là những định hướng, gợi ý cho chính sách quản trị quốc gia. Do vậy, việc tham chiếu các bài học kinh nghiệm từ các nước có thứ hạng cao về chỉ số hạnh phúc quốc gia cũng là điều cần được quan tâm.

leftcenterrightdel
TS Nguyễn Thị Hường, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Hành chính. Ảnh nhân vật cung cấp. 

TS Nguyễn Thị Hường chỉ ra rằng, mô hình nhà nước phúc lợi của các quốc gia Bắc Âu như: Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy… đã đem lại cho người dân nhiều tiện ích và được Nhà nước bảo trợ, đảm bảo những nhu cầu trong cuộc sống như: Các dịch vụ thiết yếu giá rẻ, giáo dục miễn phí, hỗ trợ y tế, an toàn xã hội, cân bằng cuộc sống và công việc… Tại các nước này, quỹ phúc lợi của Nhà nước liên tục được bổ sung từ nghĩa vụ và sự chia sẻ của các doanh nghiệp có lợi nhuận. Trong số các quốc gia đó, Phần Lan không phải là quốc gia có GDP cao nhất, nhưng lại là quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc.

Bhutan – Quốc gia hạnh phúc

Một quốc gia được coi là tiêu biểu về chỉ số hạnh phúc đó là Vương quốc Bhutan. Là một quốc gia kém phát triển, vị trí địa lý, tự nhiên không thuận lợi, 70% dân số làm nông nghiệp và sinh sống tại vùng nông thôn, nhưng người dân ở đây vẫn cho rằng mình là những người hạnh phúc nhất thế giới. Từ năm 1972, khái niệm Tổng hạnh phúc quốc gia được nhà vua Bhutan thứ 4 H.M.Jigme Singye Wangchuck chính thức đưa ra.

Bí quyết nằm ở chỗ, quốc gia này biết tích hợp quản trị nhà nước gắn với những giá trị cốt lõi mang tính nhân văn. Và cũng là quốc gia duy nhất trên thế giới hàng năm thống kê chỉ số “Tổng hạnh phúc quốc gia” (Gross National Happiness - GNH) thay vì “Tổng sản phẩm quốc nội” (Gross Domestic Product – GDP), thông qua đó nâng cao nhận thức và niềm hạnh phúc của mỗi cá nhân. Điều đó cho thấy tăng trưởng kinh tế và sự giàu có không phải là yếu tố quyết định hạnh phúc của con người.

leftcenterrightdel
 Ở Bhutan người dân luôn hài lòng và hạnh phúc với những gì họ có. Ảnh: bnews.vn.

GNH được coi là đường hướng phát triển cho chế độ quân chủ dựa trên 4 trụ cột: Phát triển kinh tế công bằng, bảo tồn môi trường, khả năng bảo tồn và phục hồi văn hoá, quản trị tốt. Bhutan đã chọn việc tối đa hoá GNH hơn là GDP. Nước này coi kết quả thống kê về chỉ số hạnh phúc quốc gia là sự phản ánh các giá trị và mục tiêu của xã hội và trở thành động lực của các lựa chọn kinh tế và công nghệ. Nói cách khác, sự phát triển luôn gắn liền với các giá trị nhân bản. 

Tại vương quốc này, Chính phủ và mỗi người dân luôn ý thức và quan tâm đến các vấn đề: Tiến bộ xã hội cũng như cách phát triển các chỉ số đo lường sự tiến bộ, từ đó định hình hệ thống chính sách và thể chế tương ứng; Phúc lợi và cách tối đa hoá phúc lợi cho các cộng đồng và mỗi cá nhân; An sinh xã hội bao gồm những vấn đề gì, cách đo lường an sinh xã hội cũng như việc sử dụng nó để đảm bảo ổn định và tổ chức xã hội. Sau này, trung tâm Bhutan Studies (CBS) đã phát triển thành 9 tiêu chí sau đây: (1) sức khỏe tâm lý, (2) sử dụng thời gian, (3) sức sống cộng đồng, (4) giáo dục, (5) đa dạng văn hóa và khả năng phục hồi, (6) đa dạng sinh thái và khả năng phục hồi, (7) sức khoẻ, (8) mức sống, (9) quản trị tốt.

Đặc biệt, tiêu chí quản trị tốt của Bhutan là cách nhìn nhận, đánh giá về hiệu quả, chất lượng và sự trung thực của Chính phủ. Quản trị tốt ở Bhutan còn được đánh giá từ việc đảm bảo quyền con người, sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, hiệu quả của Chính phủ trong việc cung ứng dịch vụ, khả năng kiểm soát bất bình đẳng và tham nhũng, độ tin cậy từ các phương tiện truyền thông, sự tin tưởng vào hệ thống tư pháp và lực lượng cảnh sát cũng như lòng tin vào thể chế.

 (Còn nữa)

TƯỜNG VY