QĐND - Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” (2-9-1945), các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận... đều đóng tại Hà Nội. Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19-12-1946) các cơ quan Trung ương vẫn đóng ở một số làng như Đại Mỗ, Tây Mỗ, Mai Lĩnh, Trúc Sơn, Sài Sơn, Cần Kiệm, Viên Nội... Tất cả đều nằm về phía tây nam Hà Nội. Đài Tiếng nói Việt Nam hằng ngày phát sóng chỉ cách Hà Nội 10km. Sự bố trí này khiến cho Bộ chỉ huy quân sự Pháp phỏng đoán, Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận sẽ tiếp tục di chuyển theo hướng tây nam, nơi có đất rộng, đông dân với nhiều địa phương chưa có quân địch...

Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Võ Nguyên Giáp tại Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) năm 1949.  Ảnh tư liệu

Đầu tháng 3-1947, quân Pháp mở cuộc tấn công, huy động tới 5.000 bộ binh, nhiều xe tăng, tàu chiến, máy bay... nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Bộ chỉ huy quân sự Pháp đã không biết con đường lựa chọn từ lâu cho cuộc di chuyển của Trung ương Đảng ta lại nằm về hướng Tây Bắc, hướng trở lại Tân Trào. Có thể nói, khi xác định trở lại Tân Trào, Bác Hồ cùng Trung ương đã thực hiện một cuộc “thiên đô” hiếm có trong lịch sử chiến tranh. Với Tân Trào “Thủ đô gió ngàn” nói riêng, Chiến khu Việt Bắc nói chung, Bác Hồ và Trung ương đã lựa chọn được địa bàn hoạt động hợp, hội đủ 3 yếu tố quan trọng: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đây là những yếu tố đã góp phần mang lại chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai của dân tộc ta.

Lần đầu tiên đặt chân lên vùng đồi núi rộng lớn này, có lẽ trong chúng ta, hầu hết không khỏi bỡ ngỡ khi rời những con đường cái để đi sâu vào rừng rậm ở bên trong. Hàng trăm thung lũng lớn nhỏ, ngoắt ngoéo và những dãy núi đồi phủ kín rừng cây làm hạn chế khả năng định hướng-dù có trong tay tấm bản đồ và cái la bàn tốt nhất. Khi các binh đoàn thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ địa này, hằng ngày chúng phải đánh dấu đường đi bằng các vật dụng trong suốt chặng hành quân. Đây là điều tối kỵ trong chiến đấu vì đã để lộ bí mật, chẳng khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”. Yếu tố địa hình, rừng cây là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với quân thù; ngược lại, đối với quân và dân ta, lại là tấm áo giáp vô hình, một mặt giúp bảo vệ căn cứ, mặt khác là bàn đạp tấn công vô cùng lợi hại. Trong tập thơ “Việt Bắc”, nhà thơ Tố Hữu đã khái quát rất rõ nét điều này: “Núi giăng thành lũy sắt dày/ Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.

Trong Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông năm 1947, Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi đi thị sát chiến trường đã nhận ra những yếu huyệt về mặt địa hình, đó là con đường số 4 đoạn từ Thất Khê lên Đông Khê rất hiểm trở, sẽ thuận lợi cho những trận phục kích. Dòng sông Lô xanh trong, êm đềm chảy giữa núi rừng Việt Bắc, nhưng cũng có những đoạn địa hình hiểm trở rất thuận lợi cho những trận phục kích bằng pháo binh. Trận pháo binh ta bắn chìm hai tàu chiến địch và bắn bị thương hai chiếc khác ở Đoan Hùng khiến báo chí và đài phát thanh của Pháp gọi đây là “thảm họa Đoan Hùng”. Chiến thắng Đoan Hùng đã trở thành nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Văn Cao sáng tác nên tác phẩm âm nhạc “Trường ca Sông Lô” bất tử.

Sau Chiến thắng sông Lô, Chiến thắng đèo Bông Lau là sự kết hợp tài tình giữa các yếu tố thời tiết, địa hình và con người. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 374 gồm hầu hết là người địa phương rất thông thuộc địa hình, thời tiết và quy luật vận chuyển của những đoàn xe địch. Trận đánh diễn ra vào khoảng 5 giờ chiều là lúc ở vùng cao về mùa đông trời gần tối. Đoàn xe 30 chiếc từ Đông Khê xuống, sau khi qua đỉnh đèo Bông Lau hiểm trở, yên trí đổ dốc về phía Thất Khê, đã bị quân ta phục kích. Cả đoàn xe, có xe bọc thép hộ vệ với khoảng 250 lính đi cùng, đều bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh.

Vào những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân ta gặp muôn vàn khó khăn, nhưng chính thời gian ấy, rừng đã góp phần không nhỏ vào cuộc sống hằng ngày của mọi tầng lớp người đi tham gia kháng chiến. Rừng cung cấp nguyên liệu, vật liệu xây dựng nhà cửa, lán trại đơn vị, cơ quan; cung cấp thực phẩm như măng, trám, còn cung cấp nguyên liệu để làm chăn đắp ấm lòng trong mùa đông giá lạnh; cung cấp dược liệu chữa một số bệnh... Vì vậy, nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”... Núi rừng tại Chiến khu Việt Bắc cũng góp phần tạo ra những vẻ đẹp tự nhiên mà không phải bất kỳ nơi nào cũng có được.  Điều ấy từng được hiển hiện trong những câu thơ: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. “Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”, “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay/ Vượn hót chim kêu suốt cả ngày” thời kháng chiến chống Pháp.

Trước khi kết thúc bài viết này, xin được trích đăng một vài đoạn thư từ nhật ký của quân Pháp mà ta thu được trong Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông năm 1947 đã nói lên nỗi khiếp sợ của họ: “Chúng tôi bị bao vây bốn phía. Đi ra ngoài một bước là lập tức bị đạn bắn tỉa từ trên xuống”; “Đây là cuộc chiến đấu của những toán quân nhỏ trên rừng núi... đã gây cho ta những tổn thất nặng nề”... Chiến thắng Việt Bắc-Thu Đông năm 1947 và những chiến thắng lẫy lừng khác tại Chiến khu Việt Bắc đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; đồng thời, thể hiện tầm nhìn của Bác Hồ trong cuộc “thiên đô” về lại Tân Trào, qua đó giúp Trung ương Đảng và Chính phủ phát huy yếu tố “địa lợi”, đề ra quyết sách đúng đắn chỉ đạo cuộc kháng chiến thành công.

TS LÊ TRẦN CHẤN