Đây là sự ghi nhận, tôn vinh của Đảng và Nhà nước đối với những đóng góp xuất sắc, bền bỉ, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân của tinh hoa nghệ thuật nước nhà.

Sau những giờ phút thăng hoa, niềm hạnh phúc vô bờ của văn nghệ sĩ là những tác phẩm gửi lại cho nhiều thế hệ công chúng ghi nhớ. Đội ngũ văn nghệ sĩ hùng hậu, có chiều sâu nghề nghiệp những năm qua đã sáng tạo nhiều tác phẩm giá trị, nhưng nhìn thẳng thực tế phải thừa nhận khán giả mới chỉ tiếp cận phần nào những tác phẩm đỉnh cao. Vẫn đang diễn ra hiện trạng không vui là tác phẩm giá trị, đoạt nhiều huy chương, có sự góp mặt của nhiều NSND, NSƯT, được đồng nghiệp trong giới đánh giá cao mà công chúng lại chưa hề được thưởng thức. “Điểm nghẽn” nằm ở khâu quảng bá, tiếp thị tác phẩm nghệ thuật chưa được quan tâm đúng mức, hay thực hiện quảng bá chưa hiệu quả.

Lễ trao tặng danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú lần thứ 8. (Ảnh minh họa, nguồn thanhnien.vn)

Ở thời đại tác phẩm nghệ thuật còn là một loại hàng hóa đặc biệt theo cơ chế thị trường, khâu quảng bá luôn được đặt lên hàng đầu. Công thức dành cho một sản phẩm văn hóa nghệ thuật tung ra thị trường là kinh phí quảng bá chiếm tối thiểu một phần ba tổng số kinh phí sản xuất. Ngay cả với những tác phẩm phi thương mại, nếu không bỏ tiền của, công sức quảng bá thì công chúng, nhất là giới trẻ cũng sẽ thờ ơ khi có quá nhiều lựa chọn để nghe nhìn, giải trí. Hiện trạng đầu tư văn học, nghệ thuật chủ yếu đang dừng lại là kinh phí xây dựng tác phẩm mà không chú trọng quảng bá, tiếp thị, phát hành dẫn đến một số lĩnh vực “thua trên sân nhà”, tràn ngập văn hóa phẩm nước ngoài vốn ẩn chứa nhiều hệ lụy phức tạp. Xét cho cùng, đầu tư cho quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật chính là cách đầu tư chiều sâu để góp phần làm lành mạnh hóa, nâng cao chất lượng “món ăn tinh thần” cho công chúng, giúp công tác tuyên truyền, định hướng tư tưởng hiệu quả.

Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước hiện nay là các đơn vị nghệ thuật công lập phải tinh gọn tổ chức nhân sự, nỗ lực tự chủ tài chính, hạn chế sử dụng ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, tồn tại một thời gian quá dài dưới chế độ bao cấp, các đơn vị nghệ thuật nhìn chung chưa năng động, bắt nhịp với thị trường, chưa giỏi quảng bá, tiếp thị sản phẩm. Thiết nghĩ, ở giai đoạn đầu chuyển đổi, Nhà nước cần hỗ trợ phần nào khâu quảng bá sản phẩm theo hướng đầu tư trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Thay vì đầu tư sản xuất theo số lượng, nên tập trung cho số ít tác phẩm theo hướng đấu thầu lựa chọn đơn vị biểu diễn có năng lực chuyên môn, kinh phí còn lại tập trung cho quảng bá tiếp thị để lan tỏa tác phẩm đến với công chúng để tạo ra những “hiện tượng”, “làn sóng” nghệ thuật. Khi đã dần quen với xu thế mới, đội ngũ văn nghệ sĩ sẽ tìm cách thích ứng, xây dựng tác phẩm hợp với thị hiếu công chúng, kêu gọi nguồn lực xã hội hóa, chia thành các nhóm, đội biểu diễn chương trình quy mô vừa và nhỏ để có thể tự chủ tài chính… Với những loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc thù ở địa phương cần có chính sách đặc biệt theo hướng bảo tồn; không nên cào bằng, áp đặt máy móc để đòi hỏi các văn nghệ sĩ biểu diễn thương mại. Cần nghiên cứu ban hành các chính sách thiết thực ưu đãi NSND, NSƯT để các nghệ sĩ bậc thầy có điều kiện biểu diễn, gìn giữ không gian trình diễn, truyền dạy nghệ thuật truyền thống cho các thế hệ kế cận.

Về lâu dài, các trường đại học, cao đẳng khối văn hóa nghệ thuật cần điều chỉnh lại chương trình giảng dạy, đi theo xu thế tập trung đào tạo nhiều kỹ năng, trong đó có quảng bá, tiếp thị sản phẩm văn hóa cho văn nghệ sĩ. Nghệ sĩ không chỉ cần giỏi chuyên môn nghề nghiệp mà còn biết gây dựng tên tuổi, có thể sống được bằng nghề, tận tâm cống hiến trọn đời cho nghệ thuật, xứng đáng là những NSND, NSƯT được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin yêu, kỳ vọng.

HÀM ĐAN