QĐND - Theo Ban chỉ đạo An toàn vệ sinh lao động-phòng chống cháy nổ Trung ương, trong năm 2014, qua khám sức khỏe định kỳ cho hơn 1,1 triệu người lao động, thì có tới 20% chỉ đạt sức khỏe loại 4 và loại 5, tức là sức khỏe yếu. Số người lao động được khám nêu trên chủ yếu đang làm việc tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhỏ và vừa.

Việt Nam luôn được coi là quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, lại đang trong giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”, tức là có số người đang tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm qua đã thu hút hàng triệu lao động trẻ từ khu vực nông thôn vào làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất… Về cơ bản, các doanh nghiệp đã làm tốt công tác chính sách đối với người lao động, bảo đảm thu nhập, thực hiện đầy đủ phúc lợi xã hội, quan tâm tới điều kiện sống và làm việc, khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Tuy nhiên, do khó khăn trong sản xuất kinh doanh, không ít doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa quan tâm đúng mức đến người lao động, trong đó có việc đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, cải thiện môi trường điều kiện làm việc, khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Nhiều chủ doanh nghiệp chỉ chú trọng đến thời gian “vào ca” và kết quả làm việc của công nhân, còn việc ngoài giờ họ trú ngụ, ăn ở, sinh hoạt… ra sao thì ít quan tâm. Về phía người lao động, nhất là những lao động nữ, do ý thức dè sẻn, tiết kiệm, dành tiền gửi về cho gia đình, nên thường ăn uống đạm bạc, thiếu chất, dẫn đến không bảo đảm sức khỏe. Đó là chưa kể nhiều người ngủ nghỉ, sinh hoạt không điều độ do thiếu sự quản lý của gia đình, ảnh hưởng tới thể trạng, tinh thần.

Ảnh minh họa/Hoàng Hà.

Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. Muốn có nguồn nhân lực tốt trước hết phải coi trọng yếu tố sức khỏe, bởi sức khỏe được ví là cỗ xe chở tài năng và trí tuệ, là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất và chất lượng lao động.

Trong thời gian tới, để giảm bớt tỷ lệ người lao động sức khỏe yếu, cần phải có sự tham gia tích cực của các ngành chủ quản, cơ quan chức năng, chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và của chính người lao động. Các chủ sử dụng lao động phải từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm tốt phúc lợi xã hội như ăn ca, nghỉ dưỡng, nghỉ ốm, thai sản… cho người lao động, cải thiện điều kiện làm việc. Đặc biệt, việc tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám sức khỏe định kỳ cho người lao động phải được thực hiện nghiêm túc, tránh làm qua loa, chiếu lệ để lấy thành tích hoặc “qua mắt” các cơ quan chức năng; thường xuyên tổ chức đo kiểm nhằm quản lý được môi trường làm việc (như nhiệt độ, ánh sáng bức xạ, tiếng ồn, rung, khói, bụi, hơi khí độc, hóa chất…); trang bị đầy đủ những phương tiện cần thiết, bảo đảm an toàn sức khỏe cho người lao động... Cùng với đó, cần tăng cường sự quản lý, thanh tra, kiểm tra chuyên ngành của các cấp, các ngành về môi trường, vệ sinh an toàn lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất. Các tổ chức, đoàn thể trong doanh nghiệp nên chủ động tìm hiểu, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, cuộc sống, sinh hoạt ngoài giờ làm việc của người lao động, qua đó động viên, chăm lo, giúp đỡ họ có phương pháp ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi hợp lý, bảo đảm sức khỏe và tinh thần tốt nhất trước mỗi giờ vào ca.

LÊ THIẾT HÙNG