QĐND - 65,6% tổng số thuế mà 1000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất cho ngân sách Nhà nước là từ các doanh nghiệp nhà nước, dẫn đầu trong số đó là Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel). Đây là số liệu mới được Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam công bố, nhân dịp công bố bảng xếp hạng thường niên 1000 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam năm 2014. Nếu tính cả các doanh nghiệp tư nhân, tỷ lệ nộp thuế cho ngân sách Nhà nước từ những doanh nghiệp nội trong bảng xếp hạng sẽ còn cao hơn con số 65,6%. Đó là điều không thể không suy ngẫm khi rất nhiều doanh nghiệp nội đang lo ngại ưu đãi quá lớn với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sẽ khiến họ phải chịu “thúc thủ” ngay trên “sân nhà”.
 |
|
Ảnh minh họa.
|
Sự lo ngại của các doanh nghiệp nội không phải là không có cơ sở, bởi gần đây, nhiều địa phương dường như chỉ chạy theo con số bề nổi về thu hút FDI, như một dạng “bệnh” thành tích. Trong khi đó, rất nhiều dự án FDI đồ sộ đổ bộ vào Việt Nam, hoạt động hàng chục năm nhưng chưa mang lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế Việt Nam. Ngoài việc giải quyết một phần nhu cầu lao động cho người Việt Nam, họ chỉ thay mặt người tiêu dùng đóng góp một phần thuế giá trị gia tăng rất khiêm tốn. Thực tế, nếu không có sản phẩm ấy, người tiêu dùng cũng sẽ sử dụng các sản phẩm khác thay thế và Nhà nước không hề bị thất thu thuế từ nhu cầu của người tiêu dùng. Hiệu quả về chuyển giao công nghệ hay nộp thuế cho đất nước từ các dự án đồ sộ này là quá ít. Thậm chí, không ít nhà đầu tư khi bị phát hiện có biểu hiện chuyển giá, trốn thuế hoặc khi hết thời hạn ưu đãi đầu tư bèn vội vàng bán lại dự án để “phủi tay”.
Không những thế, một số dự án khi hoạt động tại Việt Nam gây thiệt hại không nhỏ về môi trường, trực tiếp gây thiệt hại về kinh tế cho người dân sinh sống trong khu vực. Trong khi đó, rất nhiều doanh nghiệp nội hoạt động trong cùng lĩnh vực sản xuất, kinh doanh lâm vào tình trạng bê bết, hoạt động cầm chừng hoặc phải bán lại doanh nghiệp, thương hiệu vì không cạnh tranh nổi. Kết quả, phần thuế đáng lý ngân sách thu được từ những doanh nghiệp nội này lại “chảy” ngược vào túi các nhà đầu tư nước ngoài.
Điều đáng nói là gần đây đã xuất hiện những dự án FDI được ưu đãi cả về thuế thu nhập cá nhân cho người có thu nhập cao, với mức giảm tới 50% so với mặt bằng chung. Như vậy, các doanh nghiệp nội sẽ vừa bị thách thức trong cạnh tranh về giá thành sản phẩm, lại vừa bị thách thức trong cạnh tranh thu hút nguồn chất xám.
Thu hút FDI phục vụ phát triển đất nước là rất cần thiết, tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đều mong muốn. Trong giai đoạn khan hiếm nguồn lực làm đòn bẩy phát triển như Việt Nam hiện nay, việc thu hút FDI lại càng là nhu cầu bức thiết. Tuy vậy, đã đến lúc, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận lại hiệu quả của việc thu hút FDI. Việc tính toán đến lợi ích lâu dài của đất nước, của các doanh nghiệp nội, của môi trường sống cho các thế hệ tương lai cần được đặt lên hàng đầu khi cân nhắc ưu đãi các dự án FDI. Cái gật đầu dễ dãi hôm nay có thể là mầm họa cho “sức khỏe” của nền kinh tế trong nước và sức khỏe, theo đúng nghĩa đen, của các thế hệ tương lai.
Đã đến lúc chúng ta cần có quy hoạch cụ thể, rõ ràng về từng lĩnh vực, từng khu vực cần có ưu đãi và mức ưu đãi tối đa để thu hút FDI. Có như vậy mới tránh được kiểu ưu đãi ồ ạt, thiếu chọn lọc và rất nguy hiểm như hiện nay. Khi ấy, các doanh nghiệp trong nước mới có thể cạnh tranh bình đẳng ngay trên “sân nhà” với những doanh nghiệp FDI, từ đó mới bung được sức bật mạnh mẽ, vững bền cho các nguồn lực "cây nhà lá vườn".
CHIẾN THẮNG