Những tiến bộ trong bình đẳng giới

Điều 1 trong “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền” năm 1948 khẳng định: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri và phải đối xử với nhau trong tình bác ái. Điều đó có nghĩa là khi bạn sinh ra dù bạn là da màu hay da trắng, nam hay nữ, dù ở đất nước nào, cha mẹ bạn là ai, tình trạng cơ thể bạn thế nào thì bạn luôn luôn là một con người tự do và bình đẳng như tất cả mọi người khác.

Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng việc xây dựng và phát triển các chính sách, chương trình nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ. Điều 26, Hiến pháp 2013 quy định “nghiêm cấm sự phân biệt đối xử về giới” thay cho “nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” như Hiến pháp 1992. Đây là sự thay đổi quan niệm và cách tiếp cận cũ về bình đẳng giới, nhấn mạnh sự phân biệt đối xử với riêng một giới là phụ nữ, sang quan điểm mới, đó là bình đẳng, phù hợp với thực tế và nhận thức chung của cộng đồng quốc tế.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện các nguyên tắc về bình đẳng giới, không phân biệt đối xử, phòng chống bạo lực với phụ nữ như Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật phòng chống mua bán người, Bộ luật Lao động sửa đổi; Chương trình hành động quốc gia về phòng chống tội phạm mua bán người giai đoạn 2011-2015 nhằm bảo vệ hỗ trợ các nạn nhân, trong đó đa số là phụ nữ và trẻ em bị mua bán trở về hòa nhập với cộng đồng; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu nâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống các cơ quan, tổ chức tham mưu và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam bao gồm Bộ Lao động thương binh và xã hội, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Hệ thống này được thiết lập ở tất cả các cấp trong toàn quốc.

leftcenterrightdel
Bà Nguyễn Thị Bình và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại Lễ trao giải Nữ Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu – Cúp Bông hồng Vàng. Ảnh: VCCI.

Việt Nam đã có sự tiến bộ đáng kể trong việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan dân cử. Theo kết quả bầu cử Quốc hội khóa XIV, đã có 133 người là nữ giới trúng cử, chiếm 26,8%, đưa Việt Nam vào nhóm có tỷ lệ nữ đại biểu cao ở khu vực, xếp thứ 2 ASEAN và xếp thứ 43/143 nước trên thế giới. Trong các cơ quan dân cử ở địa phương, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 ở cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương là 25,17%, ở cấp huyện là 24,62% và ở cấp phường/xã là 21,17%. Năm 2015, lực lượng lao động nữ chiếm 48,3%. Số lượng các doanh nghiệp do nữ làm chủ đạt trên 24,8%, số phụ nữ tham gia Ban lãnh đạo của các doanh nghiệp chiếm khoảng 48%. Để tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận các cơ hội việc làm, Chính phủ đã phê duyệt và triển khai thực hiện đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2011-2015”. Về cơ bản, trong thời gian qua Việt Nam đã đạt được bình đẳng giới nam nữ trong giáo dục phổ thông và giáo dục đại học. Khoảng cách chênh lệch về giới trong tiếp cận giáo dục hầu như không còn trong tất cả các bậc học, thậm chí nhiều phụ nữ đạt được bằng đại học và cao đẳng hơn nam giới ở một số ngành nghề. Tỷ lệ phụ nữ biết chữ là 96%; tỷ lệ nữ trong các bậc giáo dục phổ thông và đại học lần lượt là 48,6% và 48,3%. Số nữ tiến sỹ chiếm 19% tổng số tiến sỹ, nữ thạc sỹ chiếm 38% tổng số thạc sỹ. Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014, tuổi thọ trung bình của phụ nữ là 76 trong khi nam giới là 70,6. Mới đây, Bộ luật lao động sửa đổi đã quy định tăng thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ từ 04 tháng lên 06 tháng nhằm bảo vệ tốt hơn sức khỏe của các bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Thực hiện chủ trương bảo đảm quyền bình đẳng giới, Nhà nước Việt Nam chủ trương chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính, định hướng giới tính, bản dạng giới. Bộ luật Dân sự (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua ngày 24-11-2015 lần đầu tiên quy định “Cá nhân có quyền xá định lại giới tính” (Điều 36) và “việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đôi đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi“ (Điều 37).

Trên bình diện quốc tế, Chính phủ Việt Nam nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Việt Nam là một trong các quốc gia sớm tham gia CEDAW ngay từ khi Công ước mới ra đời. Công ước phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng nam nữ. Việc ký kết và phê chuẩn Công ước là cam kết có tính pháp lý của Việt Nam trước Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên bảo đảm cho phụ nữ các quyền bình đẳng theo các chuẩn mực quốc tế. Đồng thời qua đó thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ trong các hoạt động của đời sống xã hội. Báo cáo quốc gia lần 7 và 8 về tình hình thực hiện Công ước CEDAW tại Việt Nam giai đoạn 2004-2010, bổ sung cập nhật thông tin cho giai đoạn 2010-2014 đã được trình bày năm 2015. Việt Nam cũng là thành viên nghiêm túc thực hiện các quy định của Công ước về Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước số 29 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức cùng nhiều công ước khác của ILO về điều kiện lao động, chống phân biệt đối xử về giới trong lao động...

Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc gia đối với Công ước và đạt những thành tựu rất đáng khích lệ. Đó là cơ sở vững chắc để Nhà nước và nhân dân ta quyết tâm phấn đấu cho sự nghiệp bình đẳng giới và tiến bộ cho phụ nữ Việt Nam và hoàn thành Mục tiêu Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết với cộng đồng quốc tế.

Dấu ấn “phái yếu”

Với những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong vấn đề bình đẳng giới, hiện nay, phụ nữ Việt Nam đã và đang xung kích trên mọi mặt trận, tạo nên dấu ấn riêng trên con đường hội nhập.

Ta có thể bắt gặp những điển hình phụ nữ Việt Nam thành công trên rất nhiều lĩnh vực công tác, được cộng đồng quốc tế biết đến. Họ lãnh đạo hoặc sở hữu nhiều doanh nghiệp, tạo ra một hình mẫu về vai trò tích cực, rõ ràng và đa dạng cho phụ nữ. Quốc hội Việt Nam lần đầu tiên có Chủ tịch là nữ giới. Phụ nữ Việt Nam cũng đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của đất nước như Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng; rất nhiều Bộ và cơ quan trực thuộc Chính phủ có Thứ trưởng là nữ.

Nguyên Phó Chủ tịch nước, nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam, bà Nguyễn Thị Bình, chân dung một người phụ nữ Việt Nam thông minh, bản lĩnh trong Hội nghị Paris năm ấy đã được đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè thế giới yêu mến, ngưỡng mộ. Một Tôn Nữ Thị Ninh đầy duyên dáng, lịch thiệp, trí tuệ sắc sảo, dám vượt qua mọi thách thức để khẳng định bản thân và thành công rực rỡ trên lĩnh vực ngoại giao. CEO Vietjet Nguyễn Thị Phương Thảo với những thành tích nổi bật đã lọt vào danh sách Top 100 người phụ nữ quyền lực nhất thế giới do tạp chí Forbes bình chọn năm 2017, bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc của Vinamilk hay bà Thái Hương, Chủ tịch HĐQT TH True Milk đều lọt Top 50 nữ doanh nhân quyền lực châu Á... là những gương mặt đã tôn vinh tài năng phụ nữ trên lĩnh vực kinh tế. Trên lĩnh vực khoa học, có thể kể đến Tiến sỹ Hà Thị Thúy, Phó Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp với nhiều đề tài nghiên cứu giống cây trồng mang lại hiệu quả cao trong nông nghiệp, bà là tấm gương phụ nữ vừa giỏi việc nước vừa đảm việc nhà. Đặc biệt, trong quân đội, gần đây Thiếu tá Đỗ Thị Hằng Nga, nữ sĩ quan thuộc Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam, lên đường làm nhiệm vụ tại Phái bộ GGHB Liên hợp quốc tại Nam Xu-đăng. Thiếu tá Đỗ Thị Hằng Nga là cán bộ thứ 20 và là nữ sĩ quan đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lực lượng GGHB LHQ hay Kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên với những thành tích xuất sắc trong lĩnh vực bơi lội... Còn rất nhiều điển hình phụ nữ Việt tiên phong, đi đầu trong các lĩnh vực và đạt được những thành tích đáng ghi nhận. “Phái yếu” đã có mặt ở hầu hết các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và họ đang dần khẳng định vai trò cũng như “sức mạnh” trên lĩnh vực mà mình đảm trách.

Với sự đồng tâm hiệp lực của các cấp, các ngành, công tác bình đẳng giới ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Những thành tích vượt trội của phụ nữ Việt là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm bình đẳng giới ở Việt Nam, khẳng định sức mạnh của “phái yếu”, giúp họ  vươn xa hơn nữa trên con đường hội nhập.

TƯỜNG VY