QĐND Online - Sáng 23-10, tại hội trường Quốc hội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã trình bày Tờ trình về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật.

Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 13-12-2006; là Công ước quốc tế toàn diện nhất về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật. Tính đến tháng 3-2014, trên thế giới đã có 158 quốc gia ký Công ước và 141 quốc gia đã phê chuẩn Công ước này. Trong khối ASEAN, đã có 8 nước phê chuẩn Công ước, 2 nước đã ký Công ước nhưng chưa phê chuẩn là Việt Nam và Brunei. Việt Nam đã ký Công ước Quyền của người khuyết tật vào ngày 22-10-2007. Việc phê chuẩn Công ước này là bước hoàn thành thủ tục để Việt Nam trở thành thành viên Công ước.

Theo tờ trình được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trình bày, ngày 21-4-2014, Chính phủ đã có Tờ trình số 102/TTr-CP đề nghị Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật. Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013), trên cơ sở Tờ trình của Chính phủ, Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét, quyết định phê chuẩn Công ước.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trình bày Tờ trình về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật. Ảnh: Nhan Sáng - TTXVN.

Công ước Quyền của người khuyết tật là một điều ước quốc tế về nhân quyền. Công ước xác định các quyền của người khuyết tật và nghĩa vụ của các quốc gia tham gia Công ước nhằm bảo vệ và đẩy mạnh các quyền này.

Việc phê chuẩn Công ước vào thời điểm hiện nay của nước ta là rất quan trọng, nhằm thực hiện đúng cam kết của quốc gia, tạo cơ sở cho việc tăng cường đối thoại về nhân quyền và trao đổi với các nước, các tổ chức quốc tế về nhân quyền.

Việc phê chuẩn Công ước Quyền của người khuyết tật sẽ là một cam kết chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển vì lợi ích dành cho người khuyết tật. Đây cũng là một trong những căn cứ pháp lý để Việt Nam khẳng định quan điểm của mình đối với thế giới trong lĩnh vực người khuyết tật nói riêng và nhân quyền nói chung, có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam đã trở thành thành viên Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016.

Trong tờ trình phê chuẩn Công ước Quyền của người khuyết tật, Chính phủ kiến nghị không bảo lưu điều khoản nào của Công ước và kiến nghị nên tuyên bố như sau: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của người khuyết tật phù hợp với pháp luật trên tất cả các lĩnh vực bình đẳng như người không có khuyết tật".

Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật là điều ước quốc tế về quyền con người, do đó căn cứ quy định tại khoản 14 Điều 70 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013, Chủ tịch nước trân trọng đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định phê chuẩn Công ước.

Báo cáo thẩm tra về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật do Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Trần Văn Hằng trình bày cũng khẳng định sự cần thiết của việc phê chuẩn Công ước này. Ủy ban Đối ngoại nhận thấy các quy định của Công ước Quyền của người khuyết tật về cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, qua thảo luận còn có một số nội dung của Công ước chưa được quy định chi tiết trong hệ thống pháp luật Việt Nam và một số nội dung có quy định của Công ước không trái nhưng khác với quy định của pháp luật trong nước do hướng tiếp cận khác nhau.

Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội Trần Văn Hằng trình bày Báo cáo thẩm tra về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật. Ảnh: Nhan Sáng – TTXVN.

Ví dụ như theo Điều 1 Công ước, “Người khuyết tật là người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Trong khi đó, khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Như vậy, có thể thấy sự khác biệt trong 2 định nghĩa này phần nào thể hiện ở sự tiếp cận về người khuyết tật theo 2 hướng khác nhau. Định nghĩa của Công ước thể hiện cách tiếp cận bao hàm cả góc độ xã hội đối với người khuyết tật. Những rào cản khác nhau mà người khuyết tật gặp phải trong cuộc sống là những yếu tố từ bên ngoài tác động vào, cản trở họ tham gia đầy đủ và hiệu quả vào đời sống xã hội trên cơ sở bình đẳng. Trong khi đó, định nghĩa trong Luật Người khuyết tật Việt Nam chủ yếu thể hiện cách tiếp cận từ góc độ y tế, theo đó những rào cản cho cuộc sống và sinh hoạt của họ xuất phát từ chính khiếm khuyết trên cơ thể họ, chứ không phải môi trường xung quanh.

Theo Ủy ban Đối ngoại, việc chậm phê chuẩn Công ước đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi đầy đủ quyền của người khuyết tật khi mà nước ta hiện có 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số (nếu tính theo khái niệm của Công ước thì số lượng còn lớn hơn nhiều, tỷ lệ người khuyết tật tại Việt Nam có xu hướng tăng lên, một trong những nguyên nhân là tai nạn giao thông chưa được kiềm chế) và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, Ủy ban Đối ngoại cho rằng, việc Quốc hội phê chuẩn Công ước này tại Kỳ họp thứ 8 là hết sức cần thiết và nhất trí với Tờ trình của Chủ tịch nước và báo cáo của Chính phủ không bảo lưu điều khoản nào của Công ước.

Để triển khai thực hiện Công ước sau khi được Quốc hội phê chuẩn, Ủy ban Đối ngoại đề nghị Chính phủ rà soát các quy định pháp luật ban hành nhưng chưa có các quy định chi tiết tương thích với Công ước; hoặc đã thực hiện nhưng còn gặp vướng mắc, khó khăn, qua đó đề xuất các biện pháp bảo đảm tính khả thi của các quy định đó. Đồng thời, căn cứ điều kiện Việt Nam, Chính phủ cần xây dựng và đẩy nhanh lộ trình thực hiện Công ước với các yêu cầu, mục tiêu, chính sách cụ thể cho từng giai đoạn.

Do phạm vi điều chỉnh của Công ước liên quan đến nhiều văn bản pháp luật nên Ủy ban Đối ngoại cũng đề nghị Chính phủ phân công một cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi việc nội luật hóa các nội dung của Công ước để sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan. Về phía Quốc hội, đề nghị giao cho Ủy ban Các vấn đề xã hội làm đầu mối phối hợp với các cơ quan thẩm tra và cơ quan trình dự án luật tiến hành rà soát để bảo đảm sự tương thích nội dung Công ước.

PHÚC THẮNG

Khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII

Lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô ổn định tốt hơn

Hơn 3.700 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi tới Quốc hội

462 tỷ đồng thực hiện Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông

Công tác phát hiện tham nhũng vẫn là khâu yếu

Tạo hành lang pháp lý để quản lý thống nhất tài nguyên và môi trường biển, hải đảo

Đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ cho phù hợp với tình hình mới

Cần quy định cụ thể hơn về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội