Vừa qua, tại xã Ngọc Trạo (huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá) đã diễn ra lễ mít tinh kỷ niệm 65 năm ngày thành lập chiến khu du kích Ngọc Trạo-một trong những chiến khu du kích đầu tiên của Việt Nam. Từ sáng sớm, ở đài tưởng niệm chiến khu Ngọc Trạo và sân vận động xã Ngọc Trạo rợp cờ hoa, nhân dân, các dân tộc huyện Thạch Thành cũng về đây mừng chiến khu cách mạng 65 năm tuổi.
“Thời ấy, bác bằng tuổi cháu”
Và dĩ nhiên, một thành phần không thể thiếu, là các nhân chứng, dù không còn nhiều, là những người đã đồng hành cùng chiến khu Ngọc Trạo suốt 65 năm qua. Ngay từ khi tuyên thệ thành lập (19-9-1941), toàn đội du kích chỉ 12 đồng chí. Một thời gian ngắn, số đội viên lên đến hơn 80 đồng chí, với đầy đủ thành phần trong quần chúng nhân dân: trí thức, nông dân, công nhân đã kề vai sát cánh giác ngộ lý tưởng cách mạng cho toàn dân khu vực miền núi xứ Thanh. Con số hơn 80 của ngày ấy, bây giờ chỉ còn lại có 7, đa số sống ở mọi miền đất nước nhưng đã không quản đường xa, không quản tuổi già sức yếu cùng về đây vui cùng đồng bào và nhân dân Thạch Thành.
 |
| Các nhân chứng tại lễ mít tinh |
Bác Nguyễn Thuận, hiện đã 87 tuổi, từ thành phố Hồ Chí Minh cùng vợ về nơi mà bác cho rằng, đã đổi thay cuộc đời của bác. Đây là lần thứ 5 bác về lại chiến khu kể từ ngày đất nước thống nhất. Bác kể lại, mỗi lần về, đến khi chia tay dù cố cầm lòng nhưng nước mắt cứ ứa. “Nhân dân, đồng bào vẫn thế, vẫn thương yêu đùm bọc, vẫn quý trọng những chiến sĩ cách mạng. Có những cháu thanh niên chưa gặp chúng tôi lần nào nhưng khi thấy ông già chống ba-toong vào cửa thì chợt hỏi: Bác có phải du kích Ngọc Trạo năm xưa không? Để cháu đoán thử xem, bác là ai trong số 7 người hiện còn sống nhé?”.
Và cứ thế, họ cùng ngồi nghe bác Thuận kể chuyện, chuyện của cái thời bác bằng tuổi người thanh niên đang bắt chuyện bác bây giờ. 20 tuổi, sắp tốt nghiệp trường Collège Thanh Hóa (quốc học Thanh Hóa) một trường chuyên đào tạo ra những tri huyện, tri phủ cho chế độ phong kiến khi đó thì bác Thuận lên chiến khu. Với học lực loại giỏi, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn khi ấy rất kỳ vọng bác sẽ là một tay sai đắc lực, nhưng thời kỳ đấu tranh công khai bác đã cùng những bạn học cùng lớp với mình xuống đường đấu tranh đòi dân sinh dân chủ cho dân tộc nên bị chúng “ghi danh” vào sổ đen. Nhận biết tình hình sẽ bất ổn với bác, năm 1941, tổ chức đón bác lên chiến khu, vào tổ cảm tử, thành một du kích quân kiên cường như bao người du kích khác trên chiến khu Ngọc Trạo.
“Đang là một học sinh giỏi, đời sống vật chất khá no đủ, suốt ngày đọc sách... tôi bỏ hết mà không hề tiếc bởi lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc thiêng liêng hơn bao giờ hết. Lên chiến khu, thiếu gạo, lá đu đủ chấm muối cầm chừng mà vẫn quyết tâm lạ. Tôi đã sống không hổ thẹn với tuổi trẻ của mình”-bác Thuận nói.
Trong một trận đánh, bác bị địch bắt và giải về nhà lao Thanh Hóa, hết dụ dỗ rồi tra tấn, bác vẫn không khai một lời nào. Trải qua ba lần vật vã vì chúng tra tấn điện, một lỗ tai của bác đã bị hỏng cho đến bây giờ. Cộng thêm chứng co thắt động mạch vành, khó khăn lắm mới về được đây. Hôm nay, bác đến đây cùng người bác sĩ của cuộc đời bác-bác Nguyễn Thị Huệ. Nhìn bác Huệ chăm sóc bác Thuận từng viên thuốc, sửa soạn cái gối, giặt bộ áo quần và chăm chút từng ly từng tí, những thanh niên nghe bác kể chuyện rất thán phục lý tưởng, tình yêu và hạnh phúc của những người thuộc thế hệ cha ông mình.
Viết tiếp tình yêu trong tranh đấu
“Tôi cũng giống anh Nguyễn Thuận, cũng là học sinh Quốc học, lên chiến khu cùng ngày và bị nhốt cùng một nhà lao”, bác Cao Xuân Dị, 86 tuổi, từ Hà Nội về gặp mặt đồng chí tâm sự.
Đi cùng bác Dị là bác Trần Thị Nhị, người bạn học ngày xưa của bác ở thị xã Thanh Hóa, người đồng chí của bác những ngày chiến khu và là người bạn đời thủy chung son sắt của bác suốt 60 năm qua. Bác Dị rất kiệm lời, ít kể chuyện quá khứ vì “thời ấy, đấu tranh vì dân tộc là... bình thường. Hỏi ai mà chẳng có chuyện để kể”. Bác Nhị kể lại chuyện của bác, một nữ sinh trường nữ học Thanh Hóa lên chiến khu cùng dân đồng cam cộng khổ để vận động nhân dân làm cách mạng. “Tôi vận động đối tượng là những trí thực địa phương, được nhân dân rất yêu quý. Có lần Pháp lùng sục, tôi suýt nữa bị bắt thì chị chủ nhà quát tôi: Dì bế cháu ra ngoài đi. Họ bắt Việt Minh cứ đứng đấy mà chuốc vạ vào thân! Chữ “dì” đã cùng tôi suốt cả cuộc đời, đi làm cách mạng được dân coi như ruột thịt. 5 năm trước về đây, chị ấy vẫn còn sống. Con của chị tìm đến Ngọc Trạo hy vọng tôi vẫn còn sống và trở về thăm lại chiến khu, thì thật may mắn cho cả hai, là chúng tôi gặp được nhau. Anh ấy bảo rằng mẹ anh ấy vẫn còn nhớ và mong gặp lại cán bộ Nhị. Vợ chồng tôi đến thăm chị, chị ôm tôi khóc gần cả tiếng đồng hồ”.
Trở lại câu chuyện với hai vợ chồng bác Dị. Bác Nhị nhẹ nhàng: “Chúng tôi quen nhau từ thời đi học, yêu nhau thời trên chiến khu và thề với nhau đất nước được độc lập mới cưới. Khi chiến khu bị vỡ, chúng tôi cùng bị bắt, ông bị Pháp tuyên án 14 năm, còn tôi thì 12 năm. Nhưng chế độ thực dân phong kiến đâu có tồn tại lâu như thế để mà cầm tù chúng tôi? Cách mạng thành công, chúng tôi tổ chức lễ cưới. Cưới rồi, ông và tôi cùng lao vào những nhiệm vụ cách mạng mới mà tổ chức giao”.
Năm 1949, bác Dị được đi học trường Nguyễn Ái Quốc ở Việt Bắc sau đó được cử sang Trung Quốc học ở Học viện Mác-Lê nin rồi về lại trường Nguyễn Ái Quốc làm giảng viên triết học. Còn bác Nhị năm 1952 được điều sang công tác bên bộ phận phát tiếng Việt của đài Phát thanh Bắc Kinh. Bao nhiêu năm xa nhau, hai người thủy chung chờ nhau. Đến năm 1960 họ mới được đoàn tụ. Người con trai của hai bác lớn lên, cũng giống cha mẹ, lại sống trong cảnh đất nước bị đế quốc xâm lược. Năm 1974, khi đang là sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội, anh xung phong lên đường đi chiến đấu giải phóng miền Nam và hành quân đến Nghệ An, mắt bị cận thị quá nặng nên anh được về trường học tiếp.
Trăn trở từ tượng đài Ngọc Trạo
Dưới tượng đài chiến khu du kích Ngọc Trạo, những du kích quân năm nào ngồi cùng hát “Du kích quân”, bài hát mà suốt một thời xuân trẻ họ đã cùng hát. Ngày ấy, thiếu thốn, khó khăn thế, kẻ thù vây hãm bắt bớ tù đày thế họ vẫn hát một cách nhiệt huyết và tin tưởng. Hôm nay, giọng hát đã yếu ớt, nhưng niềm tin ấy vẫn chói lên trong từng tiếng hát. Tiếng hát nghèn nghẹn hơn khi bài hát thì vẫn còn vang vọng mà người cùng hát năm xưa thì đã thưa thớt quá nhiều.
Bác Đường Văn Vân, du kích quân cao tuổi nhất và “sống lâu” nhất, hiện đã bước sang tuổi 94, một mình từ Bỉm Sơn về đây hát cùng các đồng chí của mình bài ca một thuở. Cuộc đời bác Vân sóng gió nhất trong những đội viên hiện còn sống, hiện hai vợ chồng hơn 90 tuổi vẫn nương tựa vào nhau trong một căn hộ nhỏ ở thị xã Bỉm Sơn. Gia đình bác từng hai lần bị mất nhà: đế quốc đốt, bị tịch thu trong sai lầm cải cách ruộng đất nhưng bác vẫn luôn tin tưởng Đảng và vẫn thấy thời ở chiến khu Ngọc Trạo với bác là thiên đường của tuổi trẻ. Bác không như bác Dị, bác Thuận là những người lên chiến khu từ những học sinh, bác lên chiến khu từ một nông dân. Hôm nay, trước đồng chí và nhân dân, bác trăn trở về lối sống của một số thanh niên hiện tại. Đó là lối sống thực dụng, vị kỷ, lười lao động, cái hay thì tiếp thu chậm mà cái dở thì tiếp thu nhanh. Bác nói: “Chúng tôi vẫn tự hào vì mình đã làm được tấm gương cho lớp thanh niên thời chống Mỹ. Nhưng bây giờ, nhiều thanh niên lại muốn phủ nhận quá khứ”.
Người dân Thạch Thành nói riêng và Thanh Hóa nói chung tự hào về chiến khu Ngọc Trạo. Đồng bào dân tộc ở Ngọc Trạo tự hào về “chiến khu ở trong lòng mình”. Có thể nói, khi cơ chế thị trường len lỏi vào từng thôn sâu bản vắng, không ít người đã bị cuốn trôi theo những mặt trái của nó thì đồng bào dân tộc ở Ngọc Trạo vẫn hồn nhiên chân chất, yêu thương cách mạng và thông cảm sẻ chia với những khó khăn của đất nước.
Bà Bùi Thị Thành, Bí thư đảng ủy xã Ngọc Trạo nhận xét: “Nếu ngày xưa, đồng bào dân tộc Mường ở Ngọc Trạo nghèo về vật chất, chỉ có trái tim yêu Đảng, cùng Đảng làm cách mạng thì bây giờ, cũng trái tim ấy, tình yêu ấy họ từng bước làm ra vật chất để có cả hai”.
Và những gì của sự phấn đấu cho “từng bước” đó là 100% nhà ngói hóa hoặc bê tông hóa. Hệ thống điện, đường, trường, trạm được xếp vào loại khá của huyện Thạch Thành. Bình quân lương thực 650kg thóc/người/ năm. Những hủ tục lạc hậu bị đẩy lùi, gần 800 hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa... Dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần cách mạng phát huy từ tinh thần chiến khu du kích Ngọc Trạo, đồng bào, nhân dân xã Ngọc Trạo sẽ từng bước khẳng định tinh thần đó của mình một lần nữa trên con đường xây dựng cuộc sống mới.
Xin được khép lại bài viết bằng vần thơ của bác Nguyễn Thuận vừa cảm tác tại chiến khu như một lời tạm biệt:
Chào núi rừng Ngọc Trạo
Năm tuổi 65
Chúng tôi 7 người
Xin thay mặt cho cả đoàn quân.
Đứng nghiêm như những năm nào.
Nhìn trời trong xanh lồng lộng
Hiên ngang cờ đỏ sao vàng bay...
Bài và ảnh: HOÀNG NGUYÊN VŨ