Thoạt đầu, trong bộ thường phục ở nhà riêng, giữa thành phố biển Nha Trang, trông anh giống một ngư dân chính hiệu. Trong bộ quân phục thiếu tá, nét mặt anh vẫn không dấu được gốc gác cội nguồn khi sinh ra ở miền rừng Tiên Phước, Quảng Nam. Nhưng, với anh, bất kể lúc nào, trong câu chuyện bao giờ cũng quay về chủ đề tôm và cá. Đấy là Trần Văn Trọng, thiếu tá, kỹ sư chuyên ngành nuôi trồng thuỷ sản thuộc Chi nhánh ven biển (Trung tâm nhiệt đới Việt Nga-Bộ Quốc phòng). Anh là một trong 4“cha đẻ” của con tôm sú Việt Nam…
“Tuổi thơ của tôi là một chuỗi ngày vất vả. Cha hy sinh sớm, mẹ đau yếu, anh em tôi lại đông, quê hương nghèo. Nghèo và cũng bởi địa hình trắc trở nên hầu như người nông dân lúc ấy chưa bao giờ ra khỏi làng…”-Trần Văn Trọng nhớ lại những ngày còn nhỏ. Quê anh chính là một trong những căn cứ của Khu 5 trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Chính vì lẽ đó mảnh đất ấy phải hứng chịu nhiều bom đạn. Trọng may mắn hơn những người anh em ruột khác được ra Bắc học văn hoá tại Trường học sinh miền Nam theo tiêu chuẩn con liệt sĩ. Năm 1969 được sang Quế Lâm, Trung Quốc tiếp tục học văn hoá. Giai đoạn học phổ thông của Trọng tuy vậy cũng khá vất vả khi đang ở Trung Quốc lại về Việt Nam để học và đến năm 1975 thì trở về Quảng Nam. Tưởng rằng điều kiện khó khăn sẽ ngăn lại con đường sách bút nhưng với quyết tâm cao nhất, sáng đi học, chiều lên rừng bứt song mây, nuôi vịt để lấy tiền, Trọng thi đậu vào Đại học thuỷ sản Nha Trang (năm 1977). Song mây rừng, trứng vịt từ những kỳ nghỉ hè đã nối anh với giảng đường đại học. Trọng chọn đề tài tốt nghiệp cũng khá “xương”: Điều tra nguồn lợi động vật thân mềm tại Côn Đảo-Phú Quốc.
Năm 1983, việc đi lại giữa đất liền với đảo rất khó khăn, Trọng và người bạn tên Thanh khăn gói lên đường ra đảo bằng…5kg tôm khô lộ phí. Ra đến đảo, Thanh chuyên nghiên cứu về hải sâm còn Trọng làm về sò huyết. Mục đích của họ là đánh giá được nguồn lợi, thành phần giống, loài, mật độ phân bố, trữ lượng…để tìm ra hướng bảo vệ, phát triển, khai thác nguồn trữ lượng một cách hợp lý. Niềm say mê đã không phụ công, kết quả tốt nghiệp của Trọng giúp anh được nhận công tác tại Bảo tàng biển Nha Trang (Viện Hải dương học bây giờ). 10 năm gắn bó với Viện, anh có những đóng góp tích cực cho nghiên cứu thuỷ sản.

|
Tôm sú đã giúp nhiều nông dân xoá đói giảm nghèo (ảnh: Internet). |
Một trong những đề tài mang lại lợi ích to lớn cho ngành thuỷ sản, ngư dân là nghiên cứu, cho sinh sản thành công giống tôm sú tại Việt Nam. Đề tài do Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hảo làm trưởng nhóm cùng các cộng sự như TS Nguyễn Việt Nam, Nguyễn Thị Diệu Duyên và Trần Văn Trọng thực hiện. Tôm sú có giá trị kinh tế cao nhưng việc phát triển nuôi đại trà khó bởi giống tôm này chỉ sinh sản trong môi trường tự nhiên, vì thế không chủ động được mùa vụ, không phát triển nuôi công nghiệp được. Mục tiêu của chương trình nuôi tôm tại Khánh Hoà thôi thúc nhóm nghiên cứu, họ đêm ngày “ăn, ngủ” ngay trong trại tôm, theo dõi, nghiên cứu kỹ 12 giai đoạn biến thái của con tôm. Mỗi giai đoạn là mỗi thử thách, từ điều kiện sống của ấu trùng tôm đến từng loại thức ăn thời điểm... Cuối cùng thì năm 1985 cũng đánh dấu sự thắng lợi của ngành thuỷ sản Việt Nam bằng sự sinh sản nhân tạo con tôm sú giống. Khánh Hoà trở thành “quê hương” của con tôm sú và sự phát triển rộng rãi nghề nuôi trồng, con tôm sú từ đây “ra Bắc, vào Nam”, góp phần xoá đói, giảm nghèo và làm giàu cho bao nhiêu người.
Sau thành công của con tôm sú, Trọng mới “nghĩ cho mình” và xây dựng tổ ấm với chị Trần Thị Kim Hiền, công tác tại nhà khách tỉnh uỷ Khánh Hoà. Hai chiếc giường cá nhân ghép lại thành một bắt đầu đánh dấu giai đoạn gian nan của cặp vợ chồng trẻ. 5 lần chuyển chỗ ở thuê, Trọng thấy “cực” quá bèn tìm cách xoay sở bởi đồng lương ít ỏi. Vốn có chút “máu mê”, nhiều đêm Trọng chong đèn viết báo lấy...nhuận bút. Vài chục bài báo trên các báo Trung ương, địa phương cũng chẳng giúp được nhiều, anh “cõng” thêm đàn gà công nghiệp. Có lúc lại xách máy ảnh ra bãi biển Nha Trang làm nghề chụp hình nhưng bị bạn nghề ngăn cản, anh đành bỏ cuộc. Tự ái với nghề, anh về bàn với vợ xây trại nuôi tôm giống, làm tư vấn kỹ thuật cho bà con... Chính con tôm sú giống mới làm cho cuộc đời vợ chồng anh và những người nông dân thay đổi. 20% lãi của người nông dân chi trả cho công kỹ thuật giúp anh có tiền mua đất, xây nhà rộng rãi, cuộc sống đàng hoàng. Giữa lúc đó, Chi nhánh ven biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga thành lập, mở “lối rẽ” cho Trọng. Là cán bộ phối hợp của Viện Hải dương học, Trọng thấy yêu mến cuộc sống, môi trường quân đội, anh đã quyết định chuyển ngành và rồi được đi đào tạo chuyển loại tại Trường Sĩ quan Lục quân 1, trở thành sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
“Quân đội tạo điều kiện cho tôi trưởng thành, phát triển sự nghiệp khoa học kỹ thuật và cũng bởi các đề tài tôi tham gia nghiên cứu ở chi nhánh đều phục vụ cho bà con, cho người lính mà tôi thì luôn hướng đến tình cảm. Tình cảm đồng đội của người lính, tình cảm của bà con nông dân chân chất như chính cuộc đời tôi nên tôi yêu tình cả ấy”- Trọng tâm sự thế và tôi được Bí thư Đảng uỷ Chi nhánh ven biển, đại tá Trần Văn Thược cho biết thêm, người kỹ sư ấy có nhiều đóng góp về nghiên cứu môi trường biển với những hoạt động của bộ đội, của ngư dân biển. Biển hào phóng nhưng biển cũng chứa đầy những bất trắc, chỉ một sơ xuất khi tiếp xúc với độc tố có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người...
Lúc chúng tôi đến thăm nhà, Trần Văn Trọng say sưa bên bể cá giống đặt giữa… phòng khách. Anh bảo đó là loài cá Niên. Cá Niên là loài cá chỉ sống ở vùng núi miền Trung, dưới các dòng suối có nước chảy, là loài cá đặc sản với nhiều lợi ích. Đây chính là đề tài mới anh nhận trách nhiệm với Sở Khoa học, Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi đang gần tới cái đích của sự thành công. Loài cá này cũng chỉ sinh sản trong môi trường tự nhiên, ăn rong rêu, nguồn tảo, giá mỗi kg hàng trăm ngàn đồng nên nó đang bị khai thác triệt để, có nguy cơ bị huỷ diệt. Gần hai năm lặn lội, thu thập từng chút thông tin của đồng bào dân tộc về loài cá này, kỹ sư Trọng đã hoàn thành việc điều tra nguồn lợi, kế hoạch bảo vệ. .. Đặc biệt, anh đã cho giống cá Niên sinh sản nhân tạo và nuôi thử thành phẩm, tỷ lệ sống của cá con tới 80%. Nếu loài cá Niên được phát triển, sẽ mở ra hướng phát triển mới của vùng núi vốn được coi là khó trong việc lựa chọn nuôi trồng “cây gì? con gì?”. Hai điểm nuôi thử nghiệm tại Ba Tơ và Sơn Hà đã và đang chứng minh cho hướng đi mới, thành công của kỹ sư Trần Văn Trọng. Chúng tôi đặt niềm tin ở anh...
Ngô Anh Thu