Các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ sau mấy tháng được triển khai đã có những tín hiệu ban đầu đáng mừng.

Đại lộ Nguyễn Văn Linh (Quận 7, TP.HCM) - Một công trình xây dựng hạ tầng do doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm chủ đầu tư - Ảnh Nguyễn Đình Minh

Theo tổng kết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra trong buổi gặp gỡ mới đây giữa báo chí và lãnh đạo Chính phủ, tính đến cuối tháng 6/2008 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đạt được 31,6 tỉ USD. Số liệu này chỉ là một thông tin cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn tin vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong dài hạn. Nếu Chính phủ xác định được và công bố tình hình cụ thể của từng dự án đang thực hiện qua khoản giải ngân đồng vốn này đến nay là bao nhiêu thì số liệu trên sẽ có tính thuyết phục cao hơn.

Cùng với con số kỷ lục FDI vừa nói, Chính phủ lần đầu tiên công khai số ngoại tệ dự trữ quốc gia hiện nay đã lên đến hơn 20 tỉ USD, một con số trước nay ít người được biết, mặc dù còn thua xa các nước lân cận như Thái Lan, Malaysia, Singapore, nhưng đây là con số kỷ lục của chúng ta từ trước đến nay.

Không những thế, với 29,7 tỉ USD thu về từ hoạt động xuất khẩu nửa năm qua - đặc biệt là xuất khẩu trong tháng 6 đạt kỷ lục 6,3 tỉ USD - áp lực nhập siêu của tháng này chỉ còn ở mức 1,3 tỉ USD so với mức nhập siêu tháng 5 là 2,85 tỉ USD. Tuy vậy nhập siêu của sáu tháng đầu năm nay đã lên đến 14,8 tỉ USD vẫn đang là mối bận tâm của các nhà làm chính sách, nhất là khi kim ngạch nhập khẩu sáu tháng qua đã lên đến 44,4 tỉ USD, tăng hơn 60% so với cùng kỳ năm ngoái.

Mặc dù giá cả trong tháng 6/2008 chỉ tăng 2,2% so với 3,91% của tháng 5, nhưng lạm phát tính đến nay đã lên đến 18%. Đứng trước áp lực lạm phát chưa thấy có khả năng dừng lại, biện pháp tăng lãi suất cơ bản từ 12% lên 14% đã được áp dụng. Động thái này cho thấy Chính phủ đang đặt mục tiêu chống lạm phát lên trên mục tiêu tăng trưởng, mà mới đây chỉ số này đã được điều chỉnh từ 8% xuống 7%. Đây chính là sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức của những người có trách nhiệm điều hành nền kinh tế.

Không thể phủ nhận rằng những chuyển biến trên đây đã có tác động phần nào vào tâm lý người dân và các nhà đầu tư trong nước. Ngay sau khi các số liệu có phần lạc quan được công bố, tỷ giá đồng đôla Mỹ và giá vàng trên thị trường tự do đã có chiều hướng đi xuống. Người ta nghĩ đến một khả năng can thiệp có hiệu quả của khối ngoại tệ dự trữ vào việc điều chỉnh tỷ giá và lợi thế được phát huy của môi trường đầu tư với niềm hy vọng tình hình sẽ sáng sủa hơn trong vài tháng tới.

Nhưng liệu có nên trông chờ vào biện pháp tiền tệ để giải quyết vấn đề lạm phát khi trong ba nguyên nhân gây ra lạm phát của chúng ta hiện nay thì ngoài yếu tố tiền tệ chiếm 40%, 30% do giá cả thị trường thế giới tăng cao, còn lại 30% là do đầu tư công. Và chúng ta đã có biện pháp gì đối với khoản 30% đầu tư công ấy?

Trong số những nhận định của ông Alan Greenspan, đáng chú ý nhất là khuyến nghị Chính phủ Việt Nam ngoài việc tiếp tục áp dụng các biện pháp chống lạm phát đang thực hiện thì cần thiết phải giảm mạnh việc mở rộng đầu tư ồ ạt của các tập đoàn và các doanh nghiệp lớn của Nhà nước. Bởi theo ông, điều đó đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế tính năng động và sức sáng tạo không chỉ của các doanh nghiệp này mà còn của cả nền kinh tế.

Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ vào cuối tháng 6 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gặp gỡ một trong những chuyên gia hàng đầu về điều tiết kinh tế và tiền tệ Mỹ trước đây, ông Alan Greenspan, nguyên chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

Cuộc gặp gỡ này được dư luận chú ý bởi trong lúc chúng ta đang nỗ lực kiềm chế lạm phát, những ý kiến tư vấn của con người được mệnh danh “thầy phù thủy của kinh tế Mỹ” chắc hẳn phải có trọng lượng, tương tự như lâu nay, chỉ một câu nhận định của ông đôi khi cũng có khả năng ảnh hưởng tức thời đến tình hình tài chính tiền tệ không chỉ của nước Mỹ mà còn của nước khác.

Lời khuyến cáo trên chắc hẳn không làm vừa lòng các tập đoàn kinh tế lớn của chúng ta, nơi thu hút khối lượng khổng lồ đồng vốn đầu tư toàn xã hội và đang là đối tượng chính của biện pháp cắt giảm đầu tư công mà Chính phủ đang thực hiện, nằm trong tám nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát.

Một công trình nghiên cứu về “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam” gần đây của nhóm giáo sư, chuyên gia thuộc Đại học Harvard đã cho rằng có vẻ như nền kinh tế Việt Nam đang bị thống trị bởi các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Thực tế cho thấy, các tập đoàn và doanh nghiệp lớn của Nhà nước được giao thực hiện hầu hết các dự án quan trọng của Chính phủ với lượng vốn đầu tư khổng lồ có nguồn gốc nhà nước.

Đầu tư công của Việt Nam hiện nay có ba nhóm chính là (1) tiền ngân sách, chiếm khoảng 50% tổng đầu tư toàn xã hội, (2) tín dụng nhà nước chiếm hơn 9% và (3) tiền đầu tư của chính doanh nghiệp. Có thể nói, đầu tư công chủ yếu là vốn Nhà nước rót cho các tổng công ty, tập đoàn để thực hiện các công trình lớn của nền kinh tế.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 2007 khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội lên đến 461.000 tỉ đồng, tức bằng 40% GDP, trong đó khu vực nhà nước chiếm hơn 200.000 tỉ đồng, phần còn lại là của khu vực ngoài nhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, trong khi khu vực nhà nước thu hút một nguồn lực tài chính quá lớn của nền kinh tế, thì đa phần các công trình được thực hiện lại kém hiệu quả.

Một số liệu được công bố trước đây cho thấy, tỷ lệ thất thoát lãng phí trong đầu tư công ước khoảng 30% tổng vốn đầu tư. Nếu con số ấy chính xác thì số tiền thất thoát, lãng phí trong đầu tư công của năm 2007 đã lên đến 60.000 tỉ đồng.

Điều này giải thích tại sao siết chặt đầu tư công là một trong những biện pháp Chính phủ áp dụng trong tình hình lạm phát hiện nay. Đây cũng là điểm nhạy cảm nhất và gây phản ứng nhiều nhất trong khu vực quốc doanh. Theo dự tính của Chính phủ, có đến 995 dự án, với tổng số vốn 3.983 tỉ đồng sẽ phải đình hoãn trong năm 2008. Thế nhưng việc triển khai thực hiện kế hoạch vẫn còn rất chậm chạp.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhiều địa phương và các bộ, ngành chỉ mới lên danh sách hoặc làm báo cáo về các công trình lớn dự định cắt giảm với số tiền rất nhỏ so với thực trạng các công trình đầu tư kém hiệu quả. Hiệu ứng tích cực nhất của chủ trương này là vừa qua Tập đoàn Vinashin đã ngưng triển khai một số dự án lớn, trong đó có quyết định không tham gia góp vốn đầu tư 1 tỉ USD trong tổng số 4 tỉ USD của dự án liên doanh với Posco (Hàn Quốc) xây dựng nhà máy thép ở Khánh Hòa.

Chính vì vậy mà tuần qua, 11 đoàn kiểm tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đến các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước để xem xét thực tế cắt giảm đầu tư công diễn ra như thế nào, trong đó chủ yếu là việc sử dụng 98.000 tỉ đồng từ nguồn vốn của ngân sách và 32.000 tỉ đồng từ trái phiếu chính phủ, vốn là gánh nặng cho Nhà nước hiện nay.

Đã có vài phát biểu lo ngại việc giảm đầu tư công sẽ làm giảm mức tăng trưởng kinh tế và gây ra tình trạng thất nghiệp. Nhưng ý kiến của nhiều chuyên gia lại cho rằng điều này sẽ không xảy ra, nếu Chính phủ mạnh dạn giao các dự án ấy cho khu vực ngoài quốc doanh, nơi mà thời gian gần đây đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp lớn có khả năng thực hiện hiệu quả các dự án hạ tầng quy mô lớn.

Đáng lẽ ra điều này phải được thực hiện từ lâu. Hồi năm 2004, trong một báo cáo về đầu tư công tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới đã khuyến nghị Chính phủ Việt Nam nên tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cho khu vực tư nhân nếu muốn tăng trưởng.

Thế nhưng khu vực tư nhân đến nay vẫn tiếp tục bị lấn át bởi sự gia tăng mạnh mẽ các nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước, xuất phát từ tình hình nở rộ mở rộng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực của các tập đoàn kinh tế, trong khi việc giám sát và quản lý rủi ro của các hoạt động này vẫn còn yếu kém.

Chính phủ đã đi đúng hướng khi chủ trương cắt giảm đầu tư công, nhưng kết quả như thế nào còn tùy thuộc vào quyết tâm, không khoan nhượng trước áp lực và đòi hỏi của các nhóm lợi ích, mà cụ thể là những tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn của Nhà nước.

Theo THANH VŨ - Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần