|
Vụ công ty Thép Việt – Ý (VIS) nhập khẩu thép cây Trung Quốc và đóng nhãn mác “VIS” để kinh doanh trên thị trường nội địa “được” Bộ Thương mại kết luận theo kiểu “hoà cả làng” đã thực sự gây bức xúc cho giới sản xuất thép trong nước. Tổng Cty thép Việt Nam cảnh báo, có thể thời gian tới, nhiều doanh nghiệp sẽ “noi gương” VIS, thị trường nội địa có thể bị “băm nát” bởi sản phẩm thép Trung Quốc được đóng nhãn mác các công ty Việt Nam. Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng quá trình xử lý vụ việc, Bộ Thương mại có thể “quên” xem xét nguồn gốc, xuất xứ lô thép nhập khẩu của VIS, một trong những quy định rất quan trọng trong cơ chế thị trường. Mặt khác, người tiêu dùng không thể phân biệt thép nội, thép ngoại nếu doanh nghiệp (DN) cứ “treo đầu dê, bán thịt chó”, như cách làm của công ty thép Việt – Ý trên đây.
Công sức xây dựng 15 năm
Sau sự việc trên đây, đã có thông tin cho rằng, DN thép Việt Nam quen “ăn xổi ở thì”, thấy lợi trước mắt là “lao đầu vào” bất chấp hậu quả. Tuy nhiên, nhiều nhà sản xuất thép lại khẳng định, ý kiến trên là không xác thực và rất thiếu tính chuyên môn.
Công bằng mà nói, 15 năm đổi mới là thời gian ngành thép Việt Nam có cơ hội phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép trong nước. Thực tế cho thấy, trước năm 1990, sản xuất thép của Việt Nam chưa bao giờ vượt quá 100.000 tấn, những năm đầu thập kỷ 1990, Việt Nam phải nhập khẩu thép từ Liên Xô cũ với số lượng lớn nhằm giải quyết nhu cầu sử dụng thép trong nước không ngừng gia tăng. Tuy nhiên, giống như nhiều nước đang phát triển, do không hội đủ các điều kiện về năng lực tài chính, các chính sách đầu tư thượng nguồn… nên các lò luyện phôi thép không thể ra đời, sản xuất thép Việt Nam thời gian này chủ yếu tập trung vào công nghệ hạ nguồn, cung ứng các sản phẩm dài như thép dây, thép cây cho xây dựng – cho đến những năm đầu thế kỷ 21, nguyên liệu (phôi thép) vẫn phải nhập khoảng từ 80% - 90%.
Theo số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam, mức tiêu thụ thép xây dựng nội địa năm 2006 khoảng 3,6 triệu tấn, trong khi năng lực sản xuất thép đã đạt mức từ 5 triệu – 5,5 triệu tấn/năm, lượng phôi thép nhập khẩu cũng “đạt ngưỡng” 1,8 triệu tấn, mặc dù sản lượng phôi thép trong nước đã tăng lên 1,4 triệu tấn. Giới chuyên môn dự báo năm 2007, nhu cầu tiêu thụ thép sẽ tăng 10%, theo đó mức sản xuất và tiêu thụ khoảng 3,8 – 3,9 triệu tấn, sản lượng luyện phôi trong nước sẽ nâng lên 1,7 triệu tấn/ năm. Theo chiến lược đầu tư thượng nguồn đến năm 2010, ngành thép sẽ cho ra đời một số lò luyện nhằm nâng sản lượng phôi thép qua từng năm 2008: 2,5 triệu tấn, năm 2009: 3,3 triệu tấn và năm 2010: 3,6 triệu tấn phôi/năm.
Từ thực tế 15 năm qua, Việt Nam đã có bước tiến dài trong việc phát triển một ngành công nghiệp nặng chủ yếu nhìn vào sự tự lực của từng thành viên DN thép, ngành thép phải tự bươn chải để tồn tại và đi lên trong điều kiện nguồn phôi thép phần lớn phải nhập khẩu, giá thành sản phẩm phụ thuộc vào sự biến động thị trường thế giới, thêm vào đó, thuế nhập khẩu phôi nhiều năm ở mức (10%), dẫn tới giá thép luôn tồn tại ở mức cao. Mặt khác, chính sách nhà nước đối với ngành thép không nhất quán, thể hiện phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế… gây nên sự bất an cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, do phát triển quá nóng trong lĩnh vực cán thép nên dẫn đến tình trạng mất cân đối cung – cầu, “khủng hoảng thừa” thép xây dựng vào những năm đầu thế kỷ 21, đặc biệt có thời điểm sản lượng dư thừa trên 30%, công suất thiết bị đạt gần gấp đôi nhu cầu tiêu thụ, buộc các nhà máy phải điều chỉnh hạ thấp sản lượng. Trong bối cảnh sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong nước, nên những “người anh em” trong ngành thép hơn 10 năm qua, luôn chèn ép, tranh giành nhau thị phần nội địa. Qua vụ việc của VIS, một lần nữa cho thấy, “anh em” nhà “hiệp hội thép” vẫn không “bảo” được nhau trong bối cảnh thị trường bản địa, cần được “bảo vệ” trước nguy cơ tấn công của thép Trung Quốc.
Các nhà sản xuất cho rằng, sản phẩm thép được ví như là “lương thực”, là “cốt lõi sự sống” của công nghiệp, nên nhiều nước trên thế giới vẫn có chính sách bảo vệ vì lợi ích riêng của từng quốc gia. Trong điều kiện Việt Nam tiếp tục hoàn thiện các chính sách và pháp luật nhằm hội nhập quốc tế toàn diện sau năm 2009, nên có thể ngành thép chưa được hưởng “ân huệ” nào từ phía Nhà nước. Tuy nhiên, theo ý kiến giới quản lý thì chính sách ưu tiên của nhà nước dù có cũng chỉ là phương tiện, còn bản thân các DN thép trong nước phải có sự đoàn kết, thống nhất trong chiến lược phát triển vì lợi ích chung, mới có thể tự bảo vệ mình. Nếu tình trạng kinh doanh của các DN thép vẫn “bảo lưu” chứng “gà què ăn quẩn cối xay” thì mọi cố gắng của ngành thép Việt Nam bấy lâu nay, có lẽ chỉ ví như xây lâu đài trên cát.
Thép Trung Quốc xâm nhập thị trường
Cách đây khoảng 4 – 5 năm, trong bối cảnh các DN thép Việt Nam tận dụng mọi lợi thế nhằm “huỷ diệt” nhau, cho mục đích tranh dành thị phần nội địa. ông Đỗ Duy Thái, Chủ tịch hội đồng quản trị công ty Thép Việt đã từng dự đoán rằng: “ Cảnh gà cùng một mẹ suốt ngày đá nhau sẽ không còn tồn tại lâu, vì khi Việt Nam ra nhập WTO, áp lực cạnh tranh sẽ rất lớn, các DN tự phải xích lại gần nhau, bắt tay nhau để cùng bảo vệ quyền lợi chung… đó là cuộc chơi lớn trước những đối thủ lớn, và đáng ngại nhất là ông bạn láng giềng – Trung Quốc”.
Mặc dù đã cảnh giác và có sự chuẩn bị, nhưng ngành thép Việt Nam không thể so sánh với Trung Quốc. Ngành thép Việt Nam chỉ thực sự phát triển từ năm 1995, đến năm 2007, năng lực sản xuất có thể đạt khoảng 6 – 7 triệu tấn/năm, trong khi Trung Quốc đã có một thời gian dài phát triển trước đó. Những năm gần đây, Trung Quốc đã trở thành quốc gia có sản lượng, và mức tiêu thụ thép lớn nhất thế giới với trên 400 triệu tấn/năm, chiếm tỷ trọng trên 30% sản lượng thép toàn cầu. Mặc dù chi phí các nguồn năng lượng sản xuất thép tại Trung Quốc rất lớn, sản lượng thép dư thừa gấp khoảng trên 10 lần sản lượng thép Việt Nam những năm gần đây. Tuy nhiên, Trung Quốc chỉ hạn chế đầu tư cán thép, hoặc xoá bỏ những nhà máy có công nghệ lạc hậu, nhằm giảm tiêu tốn năng lượng và bảo vệ môi trường. Còn các nhà máy vẫn chạy theo công suất thiết kế, sản lượng thép dư thừa được khuyến khích xuất khẩu với các chính sách trợ giá thích ứng, nhằm tạo điều kiện cho các DN thép mở rộng thị trường mà không bị sức ép về chi phí, đủ sức cạnh tranh về giá.
Do chưa chủ động về nguồn nguyên liệu, ngành thép Việt Nam trước đây phải nhập phôi từ Ukraina, sau đó chuyển sang nhập khoảng 60% lượng phôi từ Trung Quốc, cự ly gần DN thép Việt Nam chắc chắn giảm được chi phí vận chuyển, tuy nhiên từ 01/11/2006, Trung Quốc đã tăng thuế xuất khẩu phôi lên 10% nhằm hạn chế xuất khẩu nguyên liệu, đồng thời dùng chính sách thoái thu thuế đối với thép thành phẩm xuất khẩu 8%, tạo áp lực giá thép Việt Nam tăng 16% và ngược lại DN Trung Quốc chiếm lợi thế khi đưa thép giá rẻ xâm nhập thị trường Việt Nam.
Việc Trung Quốc áp dụng các chính sách hỗ trợ xuất khẩu, đã thực sự gây nhiều khó khăn cho ngành thép Việt Nam trong việc cạnh tranh về giá. Thực tế nhiều năm qua thép tròn, thép cuộn Trung Quốc đã nhập vào bán trên thị trường Việt Nam với số lượng lớn, gây tê liệt sản xuất kinh doanh đối với DN trong nước có sản phẩm cùng loại như Cty thép Thái Nguyên… Các nhà sản xuất cho rằng, sở dĩ thép tròn, thép cuộn Trung Quốc mặc sức tung hoành trên thị trường nội địa là do giá rẻ, sản phẩm lại không có nhãn mác, nên người tiêu dùng Việt Nam không phân biệt được, trong khi tâm lý người dân Việt vẫn chưa quen và chưa yên tâm khi sử dụng các sản phẩm đến từ Trung Quốc, chính vì vậy sản phẩm thép cây (có đóng nhãn mác) của Trung Quốc mặc dù có lợi thế về giá nhưng thời gian qua vẫn chưa được lòng thị trường Việt Nam, đây là lợi thế duy nhất mà các DN thép Việt Nam có được đến thời điểm này. Tuy nhiên, lợi thế trên sẽ không còn, nếu ngành thép không nhanh chóng thiết lập rào cản kỹ thuật nhằm, bảo hộ sản xuất trong nước và nắm giữ thị trường bản địa.
Theo dự đoán của một số chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp thì đến năm 2010, sản lượng thép Trung Quốc có thể đạt tới 42% sản lượng toàn cầu, và vẫn là quốc gia có số lượng xuất khẩu thép hàng đầu thế giới. Theo thông tin từ một công ty tư vấn nước ngoài, sở dĩ lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc năm 2007 tăng là do lượng hàng bán tập trung tại EU và Nam Á, đây là những khu vực ít kiện chống bán phá giá hơn so với bắc Mỹ. Với những thông tin trên đây cho thấy, nguy cơ thép thành phẩm giá rẻ Trung Quốc tràn ồ ạt vào thị trường Việt Nam là mối lo có thực.
Trong điều kiện ngành thép Việt Nam chưa được nhà nước áp dụng các chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, phần nguyên liệu (phôi) phải nhập từ Trung Quốc, sản lượng nhỏ hơn khoảng 60 lần, giá thành sản phẩm không có lợi thế cạnh tranh… Có thể nói, ngành thép Việt Nam khó giữ được thị trường bản địa! |