Sinh ngày 1-11-1927 trong một gia đình nông dân nghèo, đông anh em ở xã Lạc Đạo, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận. Năm 14 tuổi, anh đã tham gia công tác cách mạng ở địa phương, năm 1950 được biên chế vào công binh xưởng của Trung đoàn 812, năm 1951 được kết nạp Đảng, ngày 9-4-1954 để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, anh đã xung phong lái xe GMC cùng tiểu đội Cảm Tử đánh thẳng vào đồn Suối Kiết (Bình Thuận). Trận cường tập dũng cảm, táo bạo, bất ngờ làm cho cả trung đội địch không kịp trở tay.
Vốn thông minh, chăm làm, ham học, sau khi tập kết ra Bắc, anh trở thành thợ cơ khí lành nghề bậc 7/7 cùng với tấm bằng kỹ sư chế tạo máy, thông thạo hai ngoại ngữ Pháp và Anh, kết hợp hài hòa, sáng tạo giữa lý thuyết và thực hành, anh đã giải quyết được nhiều khó khăn cho sản xuất.
Nguyễn Sên nắm bắt thực tế rất nhanh nhạy, kịp thời đưa ra những sáng kiến làm lợi cho Nhà nước hàng tỷ đồng. Nhưng những sáng kiến đưa xe Benla, Komasu-Isuzu, Kamaz... từ tàu biển lên bờ, trong khi cẩu của ta thời đó chưa đủ sức nâng nguyên chiếc xe có tải trọng lớn hơn 40 tấn. Sáng kiến sửa chữa, tái tạo hệ thống phanh thủy lực cho các loại xe kể trên, mà nếu phải đợi mua của nước ngoài trong mùa chiến dịch khai thác than là việc cực kỳ khó khăn và tốn kém, ảnh hưởng lớn đến sản xuất. Chứng kiến các sáng kiến và cách làm việc của anh, các chuyên gia Thụy Điển, Liên Xô, Nhật Bản đã nói: “Xin kính chào cái đầu của Nguyễn Sên”.
Anh cũng là người tìm ra cách tái tạo bơm xăng PNU 35/70 (do Liên Xô chế tạo) để bơm xăng vào chiến trường chi viện cho miền Nam; bởi lẽ nếu không có bơm này thì đường ống dẫn dầu không thể cung cấp xăng cho chiến trường. Bơm Nhật không có, chế tạo thì các nhà máy của ta đều chưa đủ điều kiện, các chuyên gia Liên Xô nói rằng: “phải vài chục năm nữa các anh mới làm được”.
Với bản tính tự tôn dân tộc, Nguyễn Sên đã mạnh dạn thay thế quy trình chế tạo cách bơm từ công nghệ đúc sang công nghệ gò hàn. Với bàn tay thợ cơ khí lành nghề, anh đã lấy mẫu cánh bơm bằng cách lấy dây kim loại mềm uốn miết theo chiều đảm bảo chính xác đường cong đặc trưng của nó, trên cơ sở đó anh đã gò thành công những cánh bơm bằng thép trắng y hệt cánh bơm của máy bơm PNU. Việc gắn kết các cánh bơm lại với nhau bằng các đường hàn nhỏ trong rãnh hẹp có độ chịu lực cao đồng nhất với cánh bơm đã có Nguyễn Đình Cường giải quyết.
Hàng loạt các chi tiết kỹ thuật khác như: đĩa bơm, trục bơm, cũng do Nguyễn Sên và đồng đội lần lượt khắc phục. Riêng các bánh răng của bộ phận biến tốc là phải nhờ nhà máy Cơ khí Hà Nội giúp đỡ. Sau khi lắp ráp bơm di động đưa vào chạy thử ở Mỗ Lao-Hà Đông có sự chứng kiến của đồng chí Trần Đại Nghĩa, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và lãnh đạo các Bộ, ngành có liên quan đã nhận xét: Bơm nhiên liệu di động (do Nguyễn Sên cải tạo) đảm bảo đầy đủ các tính năng kỹ thuật, độ bền như máy bơm PNU 35/70 của Liên Xô.
Anh em khuyên anh nên đặt tên là bơm NS (Nguyễn Sên), nhưng anh lắc đầu, nói rằng: “Nó là bơm Trường Sơn”.
Trưởng thành từ người lính, trình độ kỹ thuật vào hàng “cao”, có đủ bằng cấp và thực tiễn, ở vị trí lãnh đạo, Nguyễn Sên được đi nước ngoài nhiều lần để nghiên cứu, học tập, tham khảo các loại máy móc, nhất là ô tô để đề xuất hợp đồng nhập khẩu phục vụ mỏ, lần nào đi cũng chỉ mang sách về, không mua sắm gì. Có lần còn thừa sinh hoạt phí (bằng ngoại tệ) anh đem nộp trả Bộ chủ quản.
Làm gần thì đi bộ, xa đi xe đạp-một xe đạp Thống Nhất sản xuất từ những năm 60 của thế kỷ trước, khung, càng đã tróc sơn. Có lần anh về thăm vợ, vành xe bị gãy anh đã phải tháo thắt lưng buộc vào yên xe, đưa về thay vành, hôm sau lấy xe đi làm (hiện nay xe đang được lưu giữ ở Bảo tàng Quảng Ninh).
Chị Nguyễn Thị Nhung-người vợ tần tảo của anh kể rằng: Có lần sáng ra mở cửa thấy anh đang ngồi tựa tường ngủ trước cửa nhà. Chị đánh thức anh dậy, nói thảng thốt:
- Sao anh lại ngủ ở đây?
- Anh về muộn, gọi cửa sợ mất giấc ngủ của em, của mẹ, ngủ đây cũng được. Anh là bộ đội mà-Anh nói nhẹ với vợ.
Căn nhà cũ anh ở vốn là cái bếp của khu tập thể công nhân mỏ cải tạo lại, chật chội, xe đạp anh đi làm về phải “vật” ra đẩy vào gầm giường để lấy chỗ đi lại. Có lần cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cầu Đinh Đức Thiện về khu mỏ, đến thăm gia đình anh không đủ chỗ ngồi.
Hơn 50 năm gắn bó với quân đội, với vùng than, từ thợ lành nghề đến phó giám đốc rồi Phó tổng giám đốc Tổng công ty Cơ khí mỏ, Nguyễn Sên đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng, có nhân cách sống cao đẹp, trong sáng, nỗ lực rèn luyện mình trong học tập và nghiên cứu ra hàng trăm sáng kiến, được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhì, nhiều huân, huy chương và bằng khen khác, và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Nhưng anh luôn khiêm nhường, nói ít, làm nhiều, sâu sát sản xuất, gần gũi công nhân, được công nhân nể trọng. Có lần tâm sự với tôi, anh nói: “quan niệm sống của anh là: quan tâm, chia sẻ, làm việc hết mình. Đó là hạnh phúc”.
Được Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tặng thưởng một xe máy Vespa của Ý và nhiều bằng lao động sáng tạo, cho đến nay hơn 30 năm, đồng hồ công tơ mét vẫn chỉ 107km và vẫn phủ bạt bên cạnh hương án thờ anh. Sinh thời có nhiều người đặt câu hỏi: Sao anh có thể có được những đức tính khiêm nhường và thành tích như vậy?
– Tôi là bộ đội Cụ Hồ-Anh nhẹ nhàng trả lời.
Anh hùng Lao động Nguyễn Sên đã “đi xa”, nhiều người vẫn nhớ và cảm phục trước tấm gương tận tụy suốt đời với cách mạng, với vùng than của anh. Tôi viết những dòng này để tưởng nhớ đến anh, đến phẩm chất người anh hùng, trên hết là phẩm chất người cộng sản-anh Bộ đội Cụ Hồ, và cũng là một nét tâm nhang dâng hương hồn anh, nguyện cầu cho những phẩm chất trong sáng, cao khiết của anh ngày càng lan xa tỏa rộng.
NGUYỄN NGỌC BẢO