 |
|
Cô Lê Thị Bích Ngà kể chuyện một thời chiến đấu.
|
QĐND - Tuy đã từng viết về đơn vị của nữ quân bưu ấy bằng tất cả lòng thành kính đặc biệt, thế nhưng, từ trong sâu kín, tôi vẫn cảm giác có lỗi nếu không viết riêng về cô Lê Thị Bích Ngà, nguyên Trạm trưởng Trạm Quân bưu số 10 (Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 240, Cục Hậu cần Quân khu 5) trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
“Đi bộ… 2 vòng Trái đất”
Vòng vèo mãi tôi mới tìm lại được căn nhà cấp 4 nhỏ thó, nằm lọt thỏm trên đường Hai Bà Trưng (TP Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Vẫn như lần trước, cô Ngà ra tận cổng đón khách.
Gần 70 tuổi, nhưng giọng cô Ngà vẫn sang sảng khi nhắc lại kỷ niệm một thời hoa lửa. Bắt đầu câu chuyện theo đề xuất của tôi, cô Ngà kể:
- Năm 1967, cả nước chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nên việc đưa quân, tải đạn diễn ra rất khẩn trương. Một nhánh của đường Trường Sơn Đông đi qua huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi) nối xuống đồng bằng rồi vào phía bắc Bình Định được thông tuyến phục vụ mục đích này. Để bảo đảm cho tuyến đường thông suốt, ngày 16-6-1967, Trạm Quân bưu số 10 được thành lập gồm các nữ chiến sĩ quân bưu. Tôi vinh dự được phân công làm trạm trưởng.
Cung đường giao liên do trạm của cô Ngà đảm nhiệm là cung đường lửa. Từ vị trí đóng quân ở làng Tà Ôn (nay là thôn Tà Vin, xã Sơn Màu, huyện Sơn Tây) đến 12 đầu mối đơn vị rồi xuống các tỉnh miền Trung-Nam Bộ, địa hình rừng núi khá hiểm trở, đường sá đi lại vô cùng khó khăn. Có những con dốc, con trai người H’re khỏe mạnh cũng phải mất hơn 3 giờ đồng hồ mới lên được đỉnh núi. Có những dòng sông, chỉ cần nghe đến tên, người ta đã không dám nghĩ đến chuyện vượt qua như: Tang, Rin, Trà Manh, Nước Màu, Xà Lò… Có những cung đường chỉ hình dung đã rợn người, như đường từ Sơn Mùa xuống Sơn Liên (Sơn Tây) rồi lên Sơn Dung (giáp Kon Tum), về Sơn Tinh (Sơn Hà)… Vậy mà, những nữ quân bưu “chân yếu tay mềm” ngày ấy đã từng vượt qua đến cả trăm lần.
Ngày đó, trên cương vị trạm trưởng, cô Ngà không chỉ quản lý, điều hành bộ đội thực hiện nhiệm vụ, mà bản thân còn trực tiếp tham gia liên lạc. Để làm gương, cô thường chọn việc khó, việc quan trọng thực hiện trước. Cô thường xuyên mang vác bưu phẩm có trọng lượng nặng, thậm chí nặng hơn cả trọng lượng cơ thể. Những lúc trên đường giao liên, cứ gặp anh thương binh nào là cõng luôn suốt mấy chục cây số về trạm để cứu chữa. Với những công văn quan trọng, bất kể đêm hay ngày, cô Ngà đều trực tiếp đi ngay.
Kể đến đây, giọng cô Ngà trầm xuống:
- Tính ra bình quân mỗi ngày, tôi và mỗi chiến sĩ quân bưu đều phải đi tới 16 giờ, tương đương 30km đường rừng, mà ròng rã suốt 8 năm trời. Ngẫm kỹ, có khi mình đi bộ được một vòng Trái đất chứ chẳng ít.
Tôi nhẩm tính, mỗi ngày mỗi cô đi khoảng 30km thì 8 năm là 87.600km, mà một vòng Trái đất có 40.077km, vậy là phải hơn 2 vòng Trái đất, chứ không phải một vòng như cô Ngà tính. Một con số ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhưng càng thán phục hơn, khi tôi biết, cũng trong ngần ấy thời gian, trên quãng đường ấy, cô Ngà và các nữ giao liên đã vận chuyển 97.200kg công văn, bưu kiện, tài liệu, thư tín; chạy hỏa tốc 9.720 công văn. Ngoài ra, đơn vị còn 12 lần chuyển địa điểm đóng quân, làm được 96 doanh trại, 96 hầm trú ẩn cho cán bộ, thương binh ăn, nghỉ… Trong 6 năm đầu các cô phải tự cấp, tự túc lương thực, thực phẩm.
Xót lòng những cuộc “điểm danh”
Trò chuyện với tôi, đôi tay cô Ngà chốc chốc lại run run, tấm lưng còng lệch hẳn sang một bên do vết tích của bao nhiêu năm gùi hàng… Cô bảo, chồng cô-ông Lê Trọng Oánh (nguyên Chính trị viên phụ trách các binh trạm quân bưu Tiểu đoàn 9, thương binh hạng 1/4) cũng trở về sau chiến tranh với những vết thương trên thân thể như cô. Từ năm 1992 đến nay, do vết thương cũ tái phát, ông phải nằm liệt một chỗ.
- Có vất vả lắm không, khi cả hai cô chú đều là thương binh nặng?-Tôi hỏi cô Ngà.
“Trạm trưởng” Ngà cười hiền, nhưng giọng nghèn nghẹn:
- So với những đồng đội còn nằm lại trên dãy Trường Sơn thì những người được sống trở về như tôi là may mắn lắm rồi. Tôi vẫn thường tâm sự với các con rằng, gia đình mình dẫu khó khăn nhưng được sống quây quần, đầm ấm bên nhau là hạnh phúc hơn nhiều so với những đồng đội khác của ba mẹ. Với nhiều chị em trong trạm, dường như tình yêu, hạnh phúc cứ quay mặt với họ.
Kể đến đây, cô đếm đầu ngón tay nhẩm tính như đang “điểm danh” lại từng người trong đơn vị. Các cô: Nguyễn Thị Diệp, Phạm Thị Điểm, Nguyễn Thị Chanh cũng tìm được một nửa của đời mình để nương tựa phần đời còn lại, nhưng điều hạnh phúc nhất của một người phụ nữ là được làm mẹ thì đã bị chiến tranh “cướp mất”. Đa số những đồng đội khác đều sống trong cảnh đơn chiếc, bị bệnh tật, vết thương hành hạ. Cũng bởi vậy mà ngoài việc làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ, cô Ngà còn nhận cho mình trách nhiệm phải động viên, chia sẻ, giúp đồng đội tiếp tục sống. “Đó là trọng trách của người “trạm trưởng” cháu ạ!”-Cô Ngà khẳng định với tôi như vậy.
Cô Nguyễn Thị Cẩn, ở TP Quảng Ngãi, nguyên nữ quân bưu Trạm Quân bưu số 10 tâm sự với tôi:
- Có điều kiện là chị Ngà lại sang nhà tôi. Lần nào sang thăm tôi, chị cũng hỏi han về đồng đội như thể "điểm danh" lại từng người. Chúng tôi đã qua biết bao lần "điểm danh quân số", nhưng sao những lần chị em gặp nhau, “điểm danh” đồng đội thì chao ôi là nước mắt, chao ôi là xót xa!
Cô Cẩn nói đúng, như đã trở thành “thói quen” của người “trạm trưởng”, ngay cả lúc nằm một mình, chập chờn trước giấc ngủ, cô Ngà vẫn “điểm danh” đồng đội trong ý nghĩ. Mỗi lần như vậy, tựa như có một vết dao cứa mạnh trong tâm khảm của cô. Không biết bao nhiêu lần cô Ngà đã khóc như để vơi bớt nỗi tủi hờn về những phận đời của đồng đội. Có lẽ, cũng bởi thế mà cô Ngà thuộc vanh vách hoàn cảnh từng người: Em Hiệu ốm đau, bệnh tật quanh năm, lại phải nuôi đứa con bị bệnh ung thư máu. Cái Dung bị bệnh tim, thiếu tiền chạy chữa, đành phải chết trong đói nghèo ở quê vào năm 2005. Con Xuân cũng qua đời vì ốm đau bệnh tật. Em Nhạn lấy anh bộ đội là thương binh, yên ấm không được bao lâu thì chồng chết để lại 3 đứa con... Nghe cô nhắc đến đồng đội mà tôi xót thương cho những người đã từng một thời trận mạc, lại càng thêm kính trọng cô nhiều hơn. Cô đâu nghĩ rằng, cuộc đời cũng “chưa thật công bằng” với chính cô. Trước đây khi tuổi trên dưới 50, cô Ngà vẫn đi quét lá dương ven biển bán lấy tiền, vẫn ngược xuôi buôn bán kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con… Và cả bây giờ nữa, khi tuổi cạn, sức kiệt, cô vẫn chưa một ngày được nghỉ ngơi cho đúng nghĩa.
Chia tay cô Ngà, vẫn như lần trước, tôi không dám chào hỏi, bịn rịn, mà nhấc vội bước chân để trốn chạy cảm xúc của riêng mình (!)
Bài và ảnh: NGUYỄN TẤN TUÂN