QĐND – Ngày 3-11, buổi sáng, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Thuế tài nguyên. Buổi chiều, Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Nuôi con nuôi.

Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Thuế tài nguyên cho biết, thuế tài nguyên hiện đang thực hiện theo Pháp lệnh Thuế tài nguyên (năm 1998) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên (năm 2008). Tuy nhiên, Pháp lệnh này cũng đã bộc lộ một số hạn chế. Để khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lí, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới, sự ra đời của Luật Thuế tài nguyên là cần thiết.

Khai thác vàng. Ảnh: Internet

Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thuế tài nguyên của Ủy ban Tài chính -  Ngân sách của Quốc hội cho thấy trong dự án luật, nhiều nội dung đã được Cơ quan soạn thảo làm rõ và quy định chi tiết hơn so với Pháp lệnh hiện hành như về căn cứ tính thuế, giá tính thuế, các trường hợp miễn, giảm thuế... Tuy nhiên, đối chiếu với mục tiêu, yêu cầu đặt ra thì dự thảo luật vẫn còn một số điểm bất cập, cần tiếp tục hoàn chỉnh, cụ thể:

Một là, quy mô sửa đổi, bổ sung cần được mở rộng hơn để thực sự đáp ứng yêu cầu nâng pháp lệnh thành luật. Hai là, nội dung của dự thảo luật chưa bảo đảm tính cụ thể, cần sửa đổi theo hướng chi tiết, rõ ràng hơn. Số lượng các quy định giao Chính phủ hướng dẫn còn khá nhiều. Việc quy định thuế suất là nội dung quan trọng nhất của một đạo luật về thuế. Tuy nhiên, việc quy định về thuế suất trong dự thảo luật vẫn dưới dạng khung với biên độ lớn và giao Chính phủ quy định mức thuế suất cụ thể. 

Nhiều đại biểu đồng quan điểm rằng thẩm quyền, trách nhiệm quyết định các chính sách thuế là của Quốc hội. Trong dự thảo Luật Thuế tài nguyên, quá nhiều quy định còn phải do Chính phủ hướng dẫn, hơn nữa các nhóm thuế, khung thuế còn chưa hợp lí quá rộng, dễ xảy ra hiện tượng xin - cho, tiêu cực khi thực hiện thu thuế. Ý kiến đại biểu cho rằng, thuế tài nguyên là một loại thuế có tính ổn định, không thể ban hành thay đổi liên tục, vì vậy Quốc hội quyết định luôn các mức thuế suất cụ thể là hợp lí nhất. Trong trường hợp cần có sự điều chỉnh thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội mỗi tháng họp một lần cũng có thể quyết định về việc này, sau đó phải báo cáo lại cho Quốc hội.

Đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội) nêu ý kiến, cần thống kê xem hiện đất nước ta đang có những tài nguyên gì có thể khai thác ngay và tài nguyên gì ở dạng tiềm năng. Từ đó, nên sắp xếp các loại tài nguyên thành hai nhóm là có thể tái tạo và không thể tái tạo. Thuế suất đối với nhóm không thể tái tạo đương nhiên phải cao hơn. Để tránh những tiêu cực có thể xảy ra khi áp dụng các khung thuế suất quá rộng, đại biểu Nguyệt Hường cho rằng cần phải quy định rõ thuế cho từng loại tài nguyên.

Đại biểu Nguyễn Duy Hữu (Đắc Lắc) cho rằng, trong dự thảo luật mức thuế suất thấp nhất của vàng là 6%, tương tự bạch kim nằm trong các nhóm có mức thuế suất thấp nhất chỉ là 5%, trong khi thuế suất đối với củi có thể lên tới 5% là chưa hợp lí. “Vàng, bạch kim thì có giá trị cao, trong khi củi không lấy thì cũng mục”. Đại biểu so sánh. Đại biểu Nguyễn Duy Hữu còn cho rằng, trong dự án luật có quy định: “Riêng việc kê khai, nộp thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than do Chính phủ quy định” là chưa hợp lí, bởi phải bình đẳng đối với tất cả các loại tài nguyên. Dầu thô, khí thiên nhiên và khí than - những loại tài nguyên mang lại nguồn thu lớn nhất trong số các tài nguyên của quốc gia - cũng phải nằm trong phạm vi quy định của luật này do Quốc hội ban hành.  

Hầu hết đại biểu đều đồng tình với quan điểm hoạt động đánh bắt hải sản xa bờ nên thuộc diện miễn thuế vì đây là hoạt động cần được khuyến khích, góp phần khai thác nguồn lợi cho quốc gia, bảo vệ quốc phòng, an ninh trên biển. Tuy nhiên, đại biểu Đào Xuân Nay (Bình Thuận) lại phân tích, chỉ nên miễn thuế tài nguyên đối với những hộ gia đình, cá nhân trực tiếp đánh bắt hải sản xa bờ. Còn đối với các tập đoàn, liên doanh với nước ngoài khai thác, đánh bắt xa bờ  thì vẫn phải đóng thuế.

Kết luận phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cho rằng, Hiến pháp quy định Quốc hội quyết định các sắc thuế. Còn mức thuế thì phân theo thẩm quyền một cách phù hợp. Có những loại, Quốc hội trực tiếp quyết định thuế suất cụ thể, có loại Quốc hội quyết định khung, có loại thì Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định, có loại Chính phủ được ủy quyền quy định cho linh hoạt, kịp thời đáp ứng tình hình. Phó chủ tịch cũng đồng tình rằng cần phải công bằng đối với các loại tài nguyên.  

Tiếp thu các ý kiến của đại biểu, Phó chủ tịch yêu cầu Ban soạn thảo phải hoàn thiện lại dự thảo Luật Thuế tài nguyên để trình ra Quốc hội ở phiên họp sau.

QUANG PHƯƠNG