Học giả Nguyễn Hữu Thái. Ảnh: THANH KIM TÙNG

Hơn 40 năm tham gia giảng dạy và nghiên cứu chuyên ngành kiến trúc, văn hóa, nhân học..., là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa Việt Nam ra thế giới, Kiến trúc sư, Nhà văn hóa Nguyễn Hữu Thái (Việt kiều Ca-na-đa) được vinh danh là một Học giả Việt Nam học tại các đại học danh tiếng ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Phóng viên báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trao đổi với ông xung quanh những vấn đề về trí thức Việt kiều trong giai đoạn hiện nay:

Tiềm năng và thái độ

- PV: Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ra nghị quyết về ba vấn đề quan trọng: Thanh niên, trí thức và nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Là một học giả có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức, ông có nhận xét gì khi so sánh trí thức Việt Nam với các nước tiên tiến dưới góc nhìn của thời kỳ hội nhập?

- Học giả Nguyễn Hữu Thái: Mỗi quốc gia có hoàn cảnh địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội riêng, nên ngoài tiêu chuẩn chung là những người có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn giỏi, thì quan niệm về vị trí, vai trò của trí thức ở từng quốc gia cũng có những nét riêng. Phần lớn trí thức Tây Âu quan tâm đến chính trị. Tiếng nói của họ rất có trọng lượng đối với nhà cầm quyền. Còn trí thức ở Bắc Mỹ chỉ chú tâm vào các công việc chuyên gia, chuyên môn. Ở Mỹ, các đại học lớn chính là môi trường định chế sự phát triển khoa học kỹ thuật của đất nước. Họ làm tốt điều này cả trăm năm nay.

Còn trí thức ở Việt Nam hiện nay, trong bài phát biểu phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 7, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã chỉ rõ: “Tri thức là nền tảng tiến bộ xã hội. Đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá trí thức. Xây dựng đội ngũ trí thức là yêu cầu tất yếu của phát triển xã hội... Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, đội ngũ trí thức nước ta còn có khoảng cách cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu...”. Tôi cho rằng nhận định đó là khách quan. Dưới góc nhìn của mình, tôi nghĩ yêu cầu đối với trí thức Việt Nam hiện nay, bên cạnh có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật giỏi, cần phải có thái độ, lập trường đúng đắn trước vận mệnh và vận hội của đất nước. Tôi nhấn mạnh vấn đề thái độ và lập trường. Thực tế hiện nay, trí thức của ta, cả trong nước và Việt kiều, nếu so sánh với trí thức các nước về mặt bằng trí tuệ, khoảng cách giữa chúng ta và họ không lớn. Nhưng thái độ đối với vận mệnh, vận hội của đất nước thì chưa thực sự chuyên nghiệp. Đây chính là hạn chế của trí thức Việt Nam trong giai đoạn đất nước hội nhập, cạnh tranh trên trường quốc tế.

- PV: Ông có thể đưa ra những căn cứ để chứng minh cho nhận định đó?

- Học giả Nguyễn Hữu Thái: Chỉ cần nhìn vào đội ngũ trí thức Việt kiều ở các nước cũng đủ căn cứ minh chứng cho vấn đề này. Ở các nước phương Tây hiện có hàng vạn chuyên gia người Việt Nam thành danh tại các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, các tập đoàn kinh tế, các trung tâm chế tạo phương tiện kỹ thuật. Tại Công ty thủy điện Hydro Gucbee, trung tâm thủy điện lớn nhất Ca-na-đa, qui tụ nhiều chuyên gia giỏi của các nước, thì riêng chuyên gia, kỹ sư người Việt Nam đã chiếm đến 30%. Đất nước Ca-na-đa có 30 triệu dân, số người Việt Nam sinh sống tại đây chỉ có 150.000 người, nhưng ở tất cả các Viện nghiên cứu, các trường đại học và những trung tâm thu hút chất xám khác, ở đâu cũng có trí thức người Việt Nam tham gia và đa số họ đều thành danh. TạiSilicon Valley (Mỹ), nơi được mệnh danh là “Thung lũng hoa vàng”, là “đầu não” của ngành công nghệ tin học Mỹ, số lượng kỹ sư, chuyên gia Việt Nam công tác cũng rất đông.

Những đóng góp của trí thức Việt kiều đối với đất nước thời gian gần đây đã có nhiều cải thiện, song so với tiềm năng thì còn rất hạn chế. Vấn đề nằm ở chỗ lập trường, thái độ của trí thức Việt kiều đối với đất nước.

KCN Nhơn Trạch-Đồng Nai, một trong những địa chỉ thu hút nhiều nhà đầu tư Việt kiều. Ảnh: T.L

- PV: Vậy đâu là nguyên nhân của vấn đề, thưa ông?

- Học giả Nguyễn Hữu Thái: Khi nghiên cứu vấn đề này, tôi chia trí thức Việt kiều theo 3 thành phần: Thứ nhất là đội ngũ đã thành tài trước năm 1975, thứ hai là đội ngũ những người tốt nghiệp đại học sau năm 1975 và thứ ba là đội ngũ trí thức trẻ sinh trưởng ở nước ngoài sau năm 1975 (thế hệ 7X, 8X). Thành phần thứ nhất phần lớn đều ý thức rõ tình cảm với quê hương, đất nước. Tuy nhiên lớp người này đã luống tuổi, một bộ phận chưa dứt bỏ được tư tưởng tự ti do những khúc mắc trong quá khứ để lại, nên thái độ, trách nhiệm của họ đối với đất nước cũng mỗi người một vẻ. Họ hướng về quê hương, tìm về quê cha đất tổ với tư tưởng an hưởng tuổi già nhiều hơn là sự cống hiến. Tiềm năng của thành phần này chủ yếu là kinh nghiệm.

Đội ngũ trí thức được đào tạo và thành tài sau năm 1975 là thành phần hùng hậu nhất. Tuy tình cảm về quê hương đất nước không sâu nặng bằng lớp người đi trước, nhưng họ vẫn ý thức rõ mình là người Việt Nam.

Thành phần trí thức 7X, 8X là thế hệ hấp thụ văn hóa nước ngoài nên ý thức về quê hương đất nước khá mờ nhạt, nhưng đây lại là lực lượng giàu tiềm năng nhất, năng động nhất. Thái độ của họ đối với đất nước tùy thuộc vào thái độ của gia đình. Họ quan tâm đến đất nước bằng cách thực dụng hơn.

Sự đa dạng về thành phần như vậy nên việc tìm một tiếng nói chung cho trí thức Việt kiều về thái độ, nghĩa vụ với đất nước không phải là việc dễ. Ở một góc nhìn khác, có thể thấy chính sách hòa hợp dân tộc, thu hút nguồn lực trí thức Việt kiều vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, chúng ta mới có chủ trương từ những năm gần đây. Còn trước đó, một thời gian dài chúng ta chưa chú trọng. Chính vì vậy, nó còn có những khoảng cách nhất định về tình cảm, lập trường và niềm tin giữa trí thức trong và ngoài nước.

Phải chấp nhận cạnh tranh

-PV: Đảng ta coi kiều bào là một bộ phận khăng khít, không thể tách rời của dân tộc. Chủ trương của Đảng và Nhà nước là kêu gọi, khuyến khích, tôn vinh, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để kiều bào đóng góp công sức, trí tuệ, của cải xây dựng đất nước.

- Học giả Nguyễn Hữu Thái: Tôi cho rằng những giải pháp để thu hút nguồn lực trí thức Việt kiều mà chúng ta tiến hành thời gian qua vẫn còn chung chung, chưa có những chính sách cụ thể, tối ưu trên từng lĩnh vực. Cần phải nhận thức sâu sắc rằng, trong giai đoạn hội nhập, trí thức là một nguồn tài nguyên, là thứ “hàng hóa” đặc biệt. Muốn sở hữu nó phải chấp nhận sự cạnh tranh, nhất là đối với đội ngũ trí thức Việt kiều thế hệ 7X, 8X. Phải tạo được môi trường để họ làm việc, cống hiến và hưởng thụ hấp dẫn hơn nơi họ đang làm việc. Vấn đề này đòi hỏi phải có một chính sách dài hạn của Đảng và Nhà nước.

- PV: Khi đã coi trí thức là thứ “hàng hóa” đặc biệt, tất yếu phải có những mô hình thu hút trí thức tối ưu. Là người có hàng chục năm công tác và nghiên cứu tại nhiều nước tiên tiến, ông tâm đắc mô hình của quốc gia nào?

- Học giả Nguyễn Hữu Thái: Có thể khẳng định rằng về chính sách thu hút trí thức Hoa kiều, Trung Quốc họ làm rất tốt. Hai mươi năm về trước, Trung Quốc cũng rất khó khăn về nguồn lực trí thức. Nhưng rồi với chiến lược “săn lùng” trí thức quyết liệt, dài hơi và đúng hướng, hiện nay họ đã tiến rất xa. Tại một số nước châu Âu và Bắc Mỹ mà tôi chứng kiến, có thể thấy trí thức Hoa kiều không có nhiều chỗ trong các viện hàn lâm, các trung tâm qui tụ chất xám bằng trí thức Việt kiều. Tuy nhiên, tinh thần dân tộc của họ rất cao. Khi tham gia các hoạt động ở nước sở tại, người Hoa kiều bao giờ cũng mang theo cờ Trung Quốc, nhưng trí thức Việt kiều thì không phải ai và ở đâu cũng làm được như vậy.

Các Hội Hoa kiều và Sứ quán Trung Quốc ở phương Tây rất tích cực trong công tác “săn lùng” nhân tài. Họ tìm hiểu, lên danh sách, lập hồ sơ các chuyên gia đầu ngành người gốc Hoa ở nước ngoài, tìm hiểu kỹ về trình độ, năng lực, tiềm năng của từng trí thức rồi lập kế hoạch vận động, cạnh tranh với nước sở tại bằng những chính sách ưu đãi hấp dẫn để kéo trí thức về cống hiến cho đất nước. Họ áp dụng nhiều hình thức để khai thác nguồn tài nguyên trí thức. Có những bộ phận về nước cống hiến, có những bộ phận vẫn làm việc ở nước ngoài nhưng dành thời gian nhất định tham gia cố vấn cho các chương trình khoa học kỹ thuật, tập đoàn kinh tế... với cách làm rất chuyên nghiệp.

Ưu tiên lĩnh vực khoa học kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp

- PV: Để khai thác nguồn tài nguyên trí thức Việt kiều đúng với tiềm năng, cần phải có một chiến lược dài hơi với những lộ trình căn cơ, bài bản. Nhưng trong giai đoạn trước mắt, theo ông chúng ta cần phải làm gì?

- Học giả Nguyễn Hữu Thái: Mới đây, tôi có gặp và tham khảo ý kiến của Giáo sư J.A.Fernandez, tác giả cuốn sách nổi tiếng “China CEO”. Giáo sư J.A.Fernandez hiện đang nghiên cứu và giảng dạy đại học ở Thượng Hải. Ông khuyên ta nên tích cực, nhanh chóng tranh thủ nguồn lực trí thức Việt kiều, ưu tiên đặc biệt cho đối tượng là chuyên gia khoa học kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp cấp cao, để giải quyết vấn đề trí thức ở Việt Nam thời "hậu WTO".

Tôi cho rằng, việc cần làm hiện nay của chúng ta là thông qua đại sứ quán ở các nước, lập bộ phận chuyên trách về trí thức Việt kiều, xúc tiến việc tìm hiểu, tiếp cận, lập hồ sơ, mở Website về các chuyên gia Việt kiều trên các lĩnh vực, ưu tiên đặc biệt cho các chuyên gia về khoa học, kỹ thuật, kinh tế và các nhà quản lý doanh nghiệp. Nếu chưa có điều kiện để mời họ về nước công tác thì chúng ta vẫn phát huy được tiềm năng của họ thông qua hoạt động cố vấn, tư vấn từ xa theo lĩnh vực chuyên môn của họ. Bên cạnh đó các bộ, ngành trong nước cần xúc tiến mạnh mẽ các hoạt động giao lưu, hội thảo, trao đổi nhân sự tu nghiệp, hoạt động bảo trợ trí thức trẻ v.v.. để tạo môi trường thân thiện, cởi mở, bình đẳng giữa trí thức trong và ngoài nước, thổi một luồng sinh khí mới kích thích tinh thần dân tộc trong đội ngũ trí thức Việt kiều. Những vấn đề này, chúng tôi cũng đã có dịp đề cập tại một số hội thảo chuyên đề trong nước thời gian qua, song cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có chuyển động đáng kể về các giải pháp cụ thể, mà chỉ mới hô hào chung chung. Hy vọng sau khi có Nghị quyết Trung ương 7 về vấn đề trí thức, chúng ta sẽ có được sự đột phá mạnh mẽ về vấn đề này.

- PV: Xin cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn!

PHAN TÙNG SƠN (thực hiện)