Cần bảo vệ những người trong độ tuổi lao động

Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân khẳng định: Bộ luật cần phải sửa đổi, bổ sung những vấn đề còn bất cập, hạn chế của quy định hiện hành nhằm đáp ứng thực tiễn của thị trường lao động và yêu cầu phát triển của kinh tế-xã hội. Nhấn mạnh việc cho ý kiến về Bộ luật này tại kỳ họp thứ 7 nhận được sự hoan nghênh của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam đã cam kết tham gia, Chủ tịch Quốc hội khẳng định, việc xem xét  Bộ luật cũng thể hiện tinh thần nghiêm túc của Việt Nam trong việc từng bước thực thi các cam kết trong lao động trong Hiệp định CPTPP và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Theo Chủ tịch Quốc hội, lần này, Bộ luật sửa đổi 200 điều là một số lượng lớn, sẽ tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp và 55 triệu người trong độ tuổi lao động; tác động đến kinh tế-xã hội trước mắt và cả lâu dài. Do đó, ngoài đáp ứng các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thì việc sửa đổi lần này cũng cần phải tính đến nhu cầu phát triển của đất nước và những vấn đề mang tính quyết định của Bộ luật cần được nghiên cứu sâu để làm căn cứ sửa luật trình Quốc hội. Nhất là, khi nước ta đang ở thời kỳ tiếp nhận, thu hút nhiều dự án nước ngoài thì chúng ta phải bắt đầu chọn lọc các dự án đầu tư để từng bước đưa nước ta tiến lên chứ không chỉ làm gia công, sơ chế như trước, vì các quy định của Bộ luật có vai trò rất quan trọng trong chọn lọc, thu hút đầu tư nước ngoài.

leftcenterrightdel
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu tại phiên họp. Ảnh: Quốc hội.

Nhấn mạnh đến những thách thức trong tương lai khi công nghệ, máy móc sẽ thay thế con người, Chủ tịch Quốc hội nêu câu hỏi, rằng các quy định trong Bộ luật lần này cần làm gì để bảo vệ những người trong độ tuổi lao động, đủ sức cạnh tranh với nguồn lao động của các nước trong khu vực và thế giới và cạnh tranh với máy móc? Làm gì để người lao động được đào tạo lại liên tục để làm quen với công nghệ mới?

"Xét về tổng thể, Bộ luật phải trả lời được câu hỏi: Thông qua quy định mới trong Bộ luật lần này, người lao động, người sử dụng lao động, người đại diện cho người lao động, nhà nước, xã hội, đất nước được gì? Quyền lợi nào của người lao động được tăng lên? Quyền lợi nào của người sử dụng lao động được bảo đảm. Nghĩa vụ, quyền lợi nào của người lao động tăng lên, giảm đi? Phải tìm được điểm hài hòa giữa bảo vệ người lao động và thúc đẩy sự phát triển, cạnh tranh của doanh nghiệp? Phải bám sát nguyên tắc, đất nước phát triển hơn thì tất cả người dân Việt Nam, trong đó người lao động phải được nghỉ ngơi nhiều hơn, hưởng thành quả nhiều hơn", Chủ tịch Quốc hội đề nghị. 

Đánh giá cao sự nỗ lực của cơ quan soạn thảo đối với Bộ luật, Chủ tịch Quốc hội bày tỏ tin tưởng, nếu hồ sơ dự thảo luật được chuẩn bị tốt, xin ý kiến đầy đủ của nhân dân, đánh giá tác động kỹ lưỡng thì sẽ tạo sự đồng thuận cao trong đại biểu Quốc hội mà còn cả trong nhân dân và người lao động.

Góp ý vào những vấn đề cụ thể, tại phiên họp, việc tăng tuổi nghỉ hưu và việc mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm thêm tối đa là hai nội dung được các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận sôi nổi.

Tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng để quy định về độ tuổi nghỉ hưu cho phù hợp

Về tuổi nghỉ hưu, báo cáo về một số nội dung lớn còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh cho biết: Có nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với quy định theo phương án 1 do Chính phủ trình quy định về lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu, tức là đến năm 2028 sẽ có lao động nam đầu tiên nghỉ hưu ở độ tuổi 62 và năm 2035 sẽ có lao động nữ đầu tiên nghỉ hưu ở độ tuổi 60. Tuy nhiên, một số ý kiến đại biểu còn băn khoăn về quy định nâng tuổi nghỉ hưu so với hiện hành và đề nghị làm rõ về việc quy định chênh lệch tuổi nghỉ hưu (2 tuổi) giữa lao động nam và lao động nữ; đồng thời cũng cho rằng việc quy định này sẽ dẫn đến nhiều tranh luận khác nhau giữa “tuổi nghỉ hưu” và “tuổi nghề”.

​Ủy ban thấy rằng, đề xuất quy định điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 28-NQ/TW và với mục tiêu lâu dài để chủ động chuẩn bị ứng phó với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh của Việt Nam. Việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần lộ trình điều chỉnh chậm sẽ có tác động tốt hơn đến tâm lý xã hội của người lao động và doanh nghiệp, tránh tác động, phản ứng quá mạnh đối với người lao động và thị trường lao động.  

leftcenterrightdel
Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh phát biểu tại phiên họp. Ảnh: TTXVN.

​Ủy ban nhấn mạnh thêm: Việc quy định về tuổi nghỉ hưu cần phải được khẳng định là tuổi nghỉ hưu chung của quốc gia đối với người lao động; việc quy định quyền được nghỉ hưu sớm hơn 5 năm chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, cần phải được cân nhắc để điều chỉnh nghỉ hưu sớm hơn 10 năm đối với một số công việc đặc biệt như làm việc khai thác than trong hầm lò, người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn, rủi ro nghề nghiệp…; việc quy định quyền được nghỉ hưu cao hơn không quá 5 năm so với tuổi nghỉ hưu chung cũng phải được hướng dẫn cụ thể hơn đối với một số ngành, lĩnh vực đang kéo dài tuổi nghỉ hưu cao hơn cả mức 5 năm (giáo dục, y tế…).

​Tuy nhiên, Chủ nhiệm Nguyễn Thúy Anh cho rằng, đến nay, Chính phủ vẫn chưa bổ sung tài liệu làm rõ những kiến nghị của Ủy ban đã nêu trong Báo cáo thẩm tra số 2032/BC-UBVĐXH14 như “bổ sung dự thảo Danh mục các công việc, ngành nghề, vị trí việc làm thuộc trường hợp đặc biệt mà người lao động có thể được nghỉ hưu ở độ tuổi thấp hơn hoặc cao hơn 5 năm theo quy định”, chưa đưa ra được cơ sở, bằng chứng khoa học để quy định về khoảng cách tuổi nghỉ hưu (2 tuổi) giữa lao động nam và lao động nữ. Đề nghị Chính phủ bổ sung các thông tin cần thiết trên để làm cơ sở, căn cứ để quy định độ tuổi nghỉ hưu cụ thể theo lộ trình hợp lý.

​Cùng với đó, quá trình lấy ý kiến cũng cho thấy, dư luận người lao động (nhất là người lao động trực tiếp sản xuất, đứng máy dây chuyền… ở doanh nghiệp) chưa có sự đồng thuận cao về quy định tăng tuổi nghỉ hưu, đòi hỏi cần có thời gian để tiếp tục tham vấn, lấy ý kiến rộng rãi các đối tượng khác nhau và quan tâm hơn công tác truyền thông trong thời gian tới.

Bày tỏ ủng hộ chính sách mới này, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh, việc tăng tuổi nghỉ hưu là vấn đề lớn đặt ra nhiều lần. Hiện nay có một số văn bản quy định tuổi nghỉ hưu khác nhau và tăng hơn như tuổi nghỉ hưu trong ngành Viện Kiểm sát, tuổi nghỉ hưu một số chức danh như giáo sư, phó giáo sư cũng từ 65- 67 tuổi... Hay theo Luật Cán bộ công chức thì tuổi nghỉ hưu của cán bộ cao cấp như Bộ trưởng và tương đương trở lên cũng là 60 trở lên chứ không phải 55 – 60 tuổi.

“Tuổi nghỉ hưu của người lao động nói chung phải có tầm nhìn dài hạn và tính đến yếu tố già hóa dân số trong tương lai gần, tính đến cân bằng giới, thị trường lao động… Bây giờ chúng ta thể chế hóa cho phù hợp. Theo Chính phủ thì việc tăng có lộ trình chứ không phải tăng ngay. Tôi ủng hộ chính sách mới này”, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nêu quan điểm.

Đồng quan điểm, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cũng nhấn mạnh, việc tăng tuổi nghỉ hưu phải tính đến các yếu tố sức khỏe của người lao động Việt Nam, khả năng làm việc của người lao động, kinh tế lao động gồm thị trường lao động, giải quyết việc làm, an sinh xã hội. Cùng với đó cũng phải xem đến yếu tố tâm lý xã hội. Đây là vấn đề lớn, theo Chủ tịch Quốc hội, tuổi nghỉ hưu được thực hiện theo tinh thần của Trung ương, đáp ứng dài hạn chứ không chỉ ở trước mắt. Theo lộ trình, đến năm 2035 (tức là 15 năm nữa), mới có lao động nữ nghỉ hưu ở tuổi 60.

“15 năm nữa chứ không phải chúng tôi làm luật này để chúng tôi ở lại, không phải cho những người đương chức để kéo dài thời gian làm việc”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh và đề nghị cách làm cần rõ ràng, bước đi thận trọng và cần thiết phải đánh giá tác động với từng đối tượng cụ thể để báo cáo, thuyết minh trình Quốc hội, từ đó đáp ứng thực tiễn phát triển và nhu cầu của xã hội, và cũng để người dân hiểu thấu đáo.

“Đề nghị Chính phủ, Bộ Lao động, Thương binh, Xã hội cùng các bộ, ngành có liên quan, nhất là Ủy ban Về các vấn đề xã hội tiếp thu các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để đánh giá, giải trình thêm, bảo đảm thấu tình đạt lý, thuyết phục được người lao động, tăng cường tuyên truyền để người dân, người lao động hiểu rõ. Đồng thời cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, căn cứ vào các luận cứ khoa học, để quy định về độ tuổi nghỉ hưu cho phù hợp, tạo sự đồng thuận trong xã hội”, Chủ tịch Quốc hội đề nghị.

Cần tạo điều kiện cho người lao động được phát triển, nâng cao trình độ

Về mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm thêm tối đa, Chủ nhiệm Nguyễn Thúy Anh cho hay, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành việc mở rộng khung thỏa thuận về giờ làm thêm tối đa lên 400 giờ/năm (tăng 100 giờ so với quy định hiện hành) nhưng chỉ áp dụng đối với một số ngành, nghề nhất định, trả tiền lương lũy tiến cho thời gian làm thêm giờ và khống chế số giờ làm thêm tối đa theo tháng; một số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Về các vấn đề Xã hội và cho rằng nên cân nhắc kỹ vấn đề này để phù hợp với điều kiện làm việc, sức khỏe và thời giờ làm việc của người lao động Việt Nam.

leftcenterrightdel
Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng điều hành nội dung phiên họp. Ảnh: TTXVN.

​Về vấn đề này, Ủy ban cho rằng, cần cân nhắc kỹ lưỡng và tiếp tục đề nghị quan tâm đến ý kiến của Ủy ban khi thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (năm 2002) và thẩm tra dự án Bộ luật Lao động (năm 2012). Mặc dù, trên thực tế, nhu cầu làm thêm giờ là có thật; từ phía người lao động bản chất là do tiền lương và thu nhập chưa bảo đảm trang trải cuộc sống; từ phía người sử dụng lao động là do nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tùy theo từng thời điểm. Bộ luật hiện hành đã quy định nguyên tắc thỏa thuận khi làm thêm giờ, nhưng việc thực hiện rất khó khăn, hạn chế, tình trạng vi phạm về thời giờ làm thêm khá phổ biến.

Mặt khác, việc kéo dài thời giờ làm thêm là đi ngược lại với xu hướng tiến bộ, khi trình độ công nghệ ngày càng phát triển, trình độ quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn, tay nghề người lao động được nâng lên thì năng suất lao động, giá trị sản phẩm tăng lên, thời giờ làm việc sẽ giảm xuống để bảo đảm sức khỏe và cải thiện đời sống của người lao động. Đáng quan tâm hơn, việc mở rộng khung thời gian làm thêm giờ tối đa trong trường hợp đặc biệt là 400 giờ/năm, gấp 2 lần tổng số giờ làm thêm tối đa trong trường hợp bình thường luật định (200 giờ/năm) và bằng 50 ngày làm việc bình thường (8 giờ/ngày) là vấn đề Cơ quan soạn thảo cần có giải trình thấu đáo cùng với mối quan hệ với thời giờ làm việc thực tế, tiền lương thực tế, hiệu quả, năng suất lao động và giải quyết việc làm... Bên cạnh đó, việc tăng thời giờ làm thêm trong điều kiện công tác thanh tra, kiểm tra, chế tài xử lý vi phạm còn hạn chế sẽ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp lợi dụng thời giờ làm thêm khai thác sức lao động, dẫn đến hậu quả người lao động sẽ cạn kiệt sức lao động sớm hơn so với tuổi lao động.

​Ủy ban đề nghị, vấn đề này cần phải được Cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ thêm và việc quy định thời gian phải làm thêm giờ phải theo hướng đảm bảo chặt chẽ, giới hạn trong một số trường hợp đối với một số ngành, nghề, công việc nhất định và phải bảo đảm các nguyên tắc: Phải có sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; áp dụng tiền lương lũy tiến cho thời gian làm thêm giờ; bổ sung quy định khống chế giờ làm thêm tối đa theo tháng và phải có cơ chế  kiểm tra, thanh tra, giám sát bảo đảm sự tuân thủ quy định về thời gian làm thêm giờ, tránh để xảy ra tình trạng phổ biến vi phạm pháp luật về làm thêm giờ như hiện nay. Bên cạnh đó, Ủy ban đề nghị Cơ quan soạn thảo rà soát kỹ để bảo đảm tính đầy đủ của Danh mục và có dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể, chặt chẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội. ​Vấn đề này hiện nay còn có ý kiến khác nhau từ phía Công đoàn, người lao động, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp, vì vậy Ủy ban trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến chỉ đạo.

Góp ý về vấn đề này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân bày tỏ việc không tán thành với việc mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm thêm tối đa. Nhấn mạnh việc này đã được xem xét ngay từ đầu năm 2002 là thời kỳ nước ta bắt đầu mở cửa hội nhập và thu nhập người lao động rất thấp, song Chủ tịch Quốc hội cho rằng, qua nghiên cứu cho thấy, tình trạng vi phạm quy định làm thêm giờ là khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều nghề, nhiều lĩnh vực, nhưng chưa chỉ ra nguyên nhân chính ở đâu, có phải do Bộ luật hay không.

Cho rằng việc đề nghị điều chỉnh này xuất phát chủ yếu từ phía doanh nghiệp, Chủ tịch Quốc hội băn khoăn rằng, liệu người lao động làm thêm giờ có thực sự được hưởng lương như các quy định của bộ luật hay không, bởi đa số các doanh nghiệp hiện nay trả lương cho người lao động theo đơn giá sản phẩm.

Mặt khác, thực tế, thế giới đang đấu tranh tăng lương, giảm giờ làm và nâng cao đời sống người lao động, còn người sử dụng lao động luôn muốn tăng năng suất cao, tranh thủ người lao động, song lại trả lương “hợp lý”. Do đó, Bộ luật phải tạo cơ sở hợp lý và cả điều kiện cho người lao động được phát triển, nâng cao trình độ, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. "Thực tế thị trường, người lao động luôn ở thế yếu, do đó cần đánh giá sâu hơn nữa về nguyên nhân của công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, quy định về cơ chế trả lương, chế độ tiền lương để hai bên thương lượng hiệu quả", Chủ tịch Quốc hội đề nghị.

NGUYỄN THẢO