Vùng đồng bào DTTS và miền núi vẫn còn nhiều khó khăn 

Báo cáo trước UBTVQH, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cho biết, nước ta có 53 dân tộc thiểu số (DTTS) với 3,04 triệu hộ, 13,38 triệu người, cư trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh, Đảng và Nhà nước ta đã xác định vùng đồng bào DTTS và miền núi khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước.

Tuy nhiên, hiện nay vùng đồng bào DTTS và miền núi vẫn là vùng khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc thừa nhận.

Nguyên nhân của tình trạng này là do vùng đồng bào DTTS và miền núi chủ yếu là núi cao, biên giới, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém nhất cả nước, xuất phát điểm rất thấp; biến đổi khí hậu, sự cố môi trường diễn ra nghiêm trọng và khó lường…; nguồn lực phân tán, dàn trải; chưa phân định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành nên hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp; chưa khai thác được tiềm năng, lợi thế của vùng, phát huy nội lực của đồng bào để đẩy mạnh phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS và miền núi.  

Từ tình hình trên, rất cần thiết phải xây dựng “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện vùng đồng bào DTTS và miền núi, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc và chính sách dân tộc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến khẳng định.

Đáng chú ý, trong Đề án xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2025: Thu nhập bình quân của người DTTS tăng ít nhất 2,5 lần so với năm 2020; giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 3% đến 5%; giảm 30% số xã đặc biệt khó khăn; 50% số thôn đặc biệt khó khăn so với năm 2020; trên 90% đường ở thôn, bản được cứng hóa theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; 100% xã có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đủ cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu dạy và học; 100% các tỉnh vùng đồng bào DTTS và miền núi giữ vững kết quả phổ cập giáo dục các cấp học; trên 90% trạm y tế xã đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; trên 90% phụ nữ được khám thai ít nhất 3 lần trong kỳ mang thai, sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự trợ giúp của cán bộ y tế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 8%...

leftcenterrightdel
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến báo cáo trước UBTVQH. Ảnh: TTXVN.

Đại diện cơ quan thẩm tra dự án luật, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hà Ngọc Chiến tán thành với sự cần thiết xây dựng Đề án như lý do đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ và cho rằng, vùng DTTS và miền núi có vị trí, tầm quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái.

Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hà Ngọc Chiến thừa nhận, hiện nay đây vẫn là vùng có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất và có tỷ lệ người nghèo cao nhất, là khu vực thường xuyên gánh chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu. Khoảng cách phát triển, mức thu nhập bình quân của người DTTS so với mặt bằng chung cả nước ngày càng lớn. Do đó, cần phải có chính sách đủ mạnh để đầu tư cho vùng này nhằm thực hiện mục tiêu thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển và mức thu nhập.

Tuy nhiên, về phạm vi thực hiện của Đề án, Đề án xác định phạm vi thực hiện ở địa bàn các xã vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021- 2030. Theo đó, được xác định trên địa bàn 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5.266 đơn vị hành chính cấp xã.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hà Ngọc Chiến cho rằng, đây là nơi có đồng bào DTTS sinh sống thành cộng đồng, trong số này có nhiều xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã, thành phố, nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển ngang bằng cả nước và khu vực. Ngược lại, nhiều xã ở khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa còn rất nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng tối thiểu cho sản xuất và đời sống của người dân chưa được đảm bảo, mức độ hưởng thụ thành quả phát triển chung của đất nước rất thấp.

Do vậy, đề nghị Chính phủ sớm thực hiện việc xây dựng bộ tiêu chí phân định khu vực miền núi vùng cao; phân định vùng DTTS và miền núi theo trình độ phát triển trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành để làm căn cứ xác định phạm vi, địa bàn tác động của Đề án, theo hướng tập trung vào “vùng lõi”của vùng DTTS và miền núi để ưu tiên nguồn lực cho những xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, để đầu tư các hạng mục hạ tầng cơ sở thiết yếu, đặc biệt là giao thông, điện, nước sinh hoạt, bảo đảm an sinh xã hội và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Cần tập trung vào "vùng lõi"

Đồng tình với quan điểm này, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đánh giá cao Đề án của Chính phủ song đề nghị rà soát kỹ để bảo đảm tính khả thi, cụ thể, tránh việc đề ra đề án rồi lại không thực hiện được như mong muốn.

Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị cần đi vào “vùng lõi”, những điểm hiện nay đang yếu nhất của đồng bào DTTS trong quá trình thực hiện trong thời gian qua. Cụ thể, về hỗ trợ, Đề án cần đi vào những khó khăn, bức xúc nhất của đồng bào; đó là nước, đất, điện và giao thông... Đồng thời, cần chia theo các vùng xem từng vùng thiếu thốn, khó khăn gì, từ đó mới có thể chỉ ra những cái cụ thể để thực hiện.

Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cũng cho rằng, một số mục tiêu trong Đề án “hơi tham vọng quá”, khó thực hiện. Ví dụ, mục tiêu tăng thu nhập của người dân trong 5 năm mà tăng 2,5 lần là quá cao. Hay mục tiêu đến năm 2025, đường ở thôn, bản được cứng hóa theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải là khó có thể thực hiện được...

leftcenterrightdel
Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng điều hành nội dung phiên họp. Ảnh: TTXVN.

Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cũng cho rằng, phạm vi, mục tiêu, phương hướng của Đề án này quá rộng; đề nghị chọn nhóm vấn đề để đưa vào Đề án cần bàn bạc, nghiên cứu thận trọng hơn.

Nhấn mạnh vùng DTTS và miền núi là vùng có “6 nhất”, song Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng phần giải pháp tổ chức thực hiện Đề án chưa thật sự được đầu tư đúng mức, cần “gia cố” thêm. Cùng với đó, cần cụ thể hơn nữa trách nhiệm để bảo đảm tính khả thi, trong đó nêu rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, Quốc hội, Chính phủ, mặt trận đoàn thể, địa phương, nguồn lực bên ngoài.... Phải xác định đầu tư cho vùng này là đầu tư cho phát triển lâu dài, liên tục và cả sự hỗ trợ; gắn với phát triển bền vững, gắn với an ninh quốc phòng, gắn với chủ quyền biên giới quốc gia... Đặc biệt, ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng và có cơ chế phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, miền, từng đồng bào dân tộc, nhất là về văn hóa, phong tục, tập quán, tập tục tốt đẹp của bà con đồng bào DTTS; từ đó giữ vững an ninh cũng như đời sống quan hệ giữa con người với con người nơi đây...

Là người có thời gian dài gắn bó với đồng bào dân tộc miền núi, Thượng tướng Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh khẳng định diện mạo vùng này thay đổi khá toàn diện nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thời gian qua. Tuy vậy, các chính sách còn manh mún, chưa toàn diện nên mức phát triển ở miền núi thấp, nên còn nhiều việc phải làm.

Theo Chủ nhiệm Võ Trọng Việt, việc có một Đề án tổng thể là rất cần thiết. Đồng chí đề xuất, Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng nên làm Trưởng đề án vì diện tích và phạm vi điều chỉnh của đề án rất lớn.

Chủ nhiệm Võ Trọng Việt cũng bày tỏ băn khoăn khi cán bộ được đào tạo cơ bản nhưng không gắn bó với địa phương. Do đó, cần có chính sách mạnh mẽ và cũng cần có cách làm để bà con phát huy được thế mạnh của mình. Vấn đề chính là ở cách làm, bám bà con để họ thay đổi nhận thức. 

Ngoài ra, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh cũng cho rằng, có những mục tiêu của Đề án mà có khi 30 đến 50 năm sau chưa chắc làm được, chưa sát với bà con. Do đó bà con cần cái gì thì chăm lo cái đó, đi từ nhỏ tới lớn; nguồn lực đầu tư phải căn cứ điều kiện thực tế; cơ chế chính sách vướng gì thì đề xuất khắc phục để người dân giữ đất, giữ rừng, giữ mối quan hệ và giữ ổn định chính trị...

PHƯƠNG HẰNG