“Hơn mười năm giúp bạn, ta và bạn đã làm nên cuộc cách mạng giải phóng một dân tộc khỏi họa diệt chủng của tập đoàn Pol Pot, hồi sinh một đất nước từ tiêu điều, tan nát, đói rách để mọi người dân có quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Một đất nước có chủ quyền với hệ thống chính trị mới được xây dựng từ trung ương đến cơ sở xã ấp, cùng với những thiết chế văn hóa, xã hội bảo đảm sự độc lập của đất nước và quyền tự chủ của người dân, là nền tảng vững chắc để tiến lên xây dựng xã hội mới, cuộc sống mới”, Đại tướng Lê Đức Anh tổng kết ngắn gọn trong cuốn hồi ký “Đại tướng Lê Đức Anh: Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật phát hành năm 2015.

Những đúc rút này của đồng chí Lê Đức Anh, người từng đảm nhận chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia tới tháng 11-1986 khi được lệnh trở về Bộ Quốc phòng nhận công tác, không chỉ là kết quả của những năm tháng đầy hy sinh, gian khổ, giúp đỡ nhân dân Campuchia khiến người dân nước bạn gọi bộ đội tình nguyện Việt Nam là "bộ đội nhà Phật” mà còn là tình cảm gắn bó của lãnh đạo và nhân dân hai nước.

“Tướng Lê Đức Anh chính là người đưa ra ý kiến tôn trọng các quyết định của Campuchia. Ngài Lê Đức Anh nói với tôi rằng, Việt Nam chỉ làm nhiệm vụ ngăn chặn sự quay trở lại của chế độ diệt chủng Pol Pot. Việt Nam không thể ở lại Campuchia mãi mãi. Đến một lúc nào đó, Campuchia phải đủ khả năng tự bảo vệ đất nước của mình. Đây là điểm nổi bật lớn nhất bởi vì một số nước cho rằng họ tôn trọng các nước khác nhưng khi mình không làm theo họ thì họ dọa cắt viện trợ. Nhưng Việt Nam thì không như vậy”, Thủ tướng Campuchia Hun Sen, người gọi đồng chí Lê Đức Anh là “thủ trưởng cũ”, nói trong một lần trả lời phỏng vấn Đài Truyền hình Việt Nam.

Là một nhà quân sự nhưng trong thời bình, Đại tướng Lê Đức Anh lại gắn nhiều với hoạt động đối ngoại. Khi là Thường vụ Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cuối tháng 7-1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc để bàn bạc những vấn đề cụ thể về bình thường hóa quan hệ hai nước. Tới tháng 11 cùng năm, Việt Nam và Trung Quốc ra thông cáo chung và ký Hiệp định chính thức bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Trung-Việt trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, đồng thời ký kết quan hệ bình thường giữa hai Đảng, mở đầu trang sử mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước sau hơn 10 năm trắc trở.

Thời gian đồng chí Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước từ năm 1992 đến năm 1997 cũng là lúc những hoạt động đối ngoại của Việt Nam thu được nhiều kết quả quan trọng. Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã góp phần nâng tầm vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, chuẩn bị tham gia Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), chuẩn bị cho việc tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký Hiệp định khung về hợp tác với Liên minh châu Âu; Việt Nam có quan hệ với hầu hết các nước trên thế giới... Các hoạt động đối ngoại đã làm cho bạn bè quốc tế hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam, hiểu rõ chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau và cùng có lợi.

Những thành công này không dễ gì đạt được. Đơn cử, chuyện bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Trên cương vị Chủ tịch nước, ngày 18-11-1992, đồng chí Lê Đức Anh đã tiếp đoàn của Ủy ban đặc biệt về vấn đề tù binh và người mất tích trong chiến tranh (POW/MIA) do Thượng nghị sĩ John Kerry dẫn đầu sang Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề còn tù binh Mỹ sống và bị giam cầm ở Việt Nam hay không. Đây là đoàn thứ hai của ủy ban này sang Việt Nam bởi trước đó, một số phần tử xấu ở Mỹ tung ra bức ảnh giả về cái gọi là “3 phi công Mỹ còn sống đang bị giam cầm tại Việt Nam”. Khi ông John Kerry bày tỏ mong muốn được thăm Thành cổ Hà Nội và công trình ngầm dưới Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Đức Anh đã chấp thuận và dẫn ông đi. Khi trở về Mỹ, ông John Kerry khẳng định tin 3 phi công Mỹ còn sống đang bị giam giữ và kho hài cốt lính Mỹ ở Việt Nam chỉ là chuyện bịa đặt nhằm phá hoại tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước. Ngày 12-7-1995, Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao.

Đồng chí Lê Đức Anh cũng vinh dự trở thành nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Việt Nam tham dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Liên hợp quốc (LHQ) và đọc diễn văn trước Đại hội đồng LHQ ngày 23-10-1995 tại trụ sở LHQ ở New York, Mỹ. Nhân dịp này, đồng chí đã thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam trao tặng LHQ phiên bản trống đồng Đông Sơn và chiếc trống này được đặt ở vị trí trang trọng tại trụ sở LHQ. Trong cuốn hồi ký của mình, đồng chí Lê Đức Anh nhớ lại thời khắc đó: “Trong tôi bỗng trào dâng niềm xúc động với ý thức lớn lao rằng: Biết bao mồ hôi, xương máu của đồng bào và chiến sĩ đã đổ ra suốt những năm chiến tranh giải phóng đất nước, vượt qua biết bao gian nan, thử thách ở chặng đường đầu tiên của sự nghiệp đổi mới đất nước vừa qua mới có được ngày hôm nay. Dân tộc Việt Nam từ bùn đen nô lệ, từ chỗ không có tên trên bản đồ thế giới, nay đã sánh ngang hàng với các quốc gia và dân tộc trên thế giới”.

Những dấu ấn của cá nhân đồng chí Lê Đức Anh trong công tác đối ngoại rất lớn và có ý nghĩa rất quan trọng. Trên cương vị Chủ tịch nước, khi đất nước đạt được những thành tựu kinh tế, chính trị, ngoại giao vượt bậc, đồng chí Lê Đức Anh vẫn nhấn mạnh: Trước đây, Đảng ta đã từng huy động sức mạnh đoàn kết quốc tế kết hợp chặt chẽ với phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước thì ngày nay, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng, chúng ta cũng đã và đang phát huy sự kết hợp một cách khoa học giữa nội lực của toàn Đảng, toàn dân với việc phát triển tình hữu nghị và hợp tác quốc tế, tạo nên sức mạnh mới cho sự nghiệp cách mạng xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn mới.

NGỌC HƯNG