Đây là chiến thắng còn mãi âm vang và là một biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Cam-pu-chia trong những thời đoạn gian khó của lịch sử hai dân tộc.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, nhân dân Cam-pu-chia không những không được hưởng cuộc sống hòa bình mà chính quyền Khơ-me Đỏ do tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ry đứng đầu đã thi hành một chính sách đối nội cực kỳ phản động đối với đất nước Cam-pu-chia, gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, nổi bật là đời sống xã hội bị đảo lộn, các giá trị văn hóa truyền thống bị xóa bỏ, hàng triệu người Cam-pu-chia bị giết hại dã man. Những người Cam-pu-chia sống sót sau họa diệt chủng của chế độ Pôn Pốt - Iêng Xa-ry đã kêu lên những lời ai oán. Tất cả những cảnh phố xá tấp nập, xóm làng xanh tươi, gia đình sum họp với lời ca tiếng hát trong những ngày hội của dân tộc trước đây đã biến mất. Cả nước biến thành con số không, không tự do đi lại, không tự do hội họp, không tự do ngôn luận, không tự do tín ngưỡng, không tự do học hành, không tự do hôn nhân, không tiêu tiền, không buôn bán, không chùa chiền… và không có cả nước mắt để khóc trước cảnh đau thương của dân tộc.
Với nhân dân Cam-pu-chia là vậy, không dừng lại ở đó, Nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ đã ra sức kích động thù hằn dân tộc chống Việt Nam. Cuối năm 1978, chính quyền Khơ-me Đỏ do tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ry cầm đầu còn huy động một lực lượng lớn kéo đến biên giới phía Đông và tiến vào khu vực Bến Sỏi (Tây Ninh), mở đường tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam nhằm thực hiện ý đồ đánh chiếm thị xã Tây Ninh, Hồng Ngự-Đồng Tháp, Bảy Núi-An Giang, Tà Phò, Tà Teng-Kiên Giang. Đi đến đâu, quân Khơ-me Đỏ cũng ráo riết cướp bóc tài sản, bắn giết nhân dân Việt Nam hết sức tàn bạo và dã man.
Đối phó với tình hình, ngày 5-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam họp Hội nghị thông qua “Kế hoạch sẵn sàng chiến đấu của Bộ Tổng tham mưu”, đồng thời nhấn mạnh, theo yêu cầu của lực lượng cách mạng Cam-pu-chia, Việt Nam sẵn sàng phương án hỗ trợ các lực lượng vũ trang yêu nước Cam-pu-chia nổi dậy đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ry, giành chính quyền về tay nhân dân. Đây là quyết định quan trọng, thể hiện tinh thần và nghĩa vụ quốc tế cao cả của cách mạng Việt Nam đối với Cam-pu-chia.
Về phía cách mạng Cam-pu-chia, ngày 2-12-1978, tại vùng giải phóng Snun, tỉnh Kra-chi-e, Đại hội đại biểu thành lập Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia long trọng khai mạc. Trước yêu cầu của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, Đại hội nhất trí thành lập Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia. Sau khi ra đời, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia đề nghị Việt Nam giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia, “không phải chỉ cứu giúp mấy vạn người tị nạn mà phải cứu giúp cả một dân tộc”.
Đáp lại lời đề nghị từ phía bạn, từ cuối năm 1978 đầu năm 1979, Quân tình nguyện Việt Nam bao gồm các Quân đoàn 2, 3, 4 và một số đơn vị của các Quân chủng Hải quân, Phòng không-Không quân; các Quân khu 5, 7, 9 thực hiện nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia mở cuộc phản công, tiến công quân Pôn Pốt trên nhiều hướng. Ở hướng Tây Bắc, từ ngày 31-12-1978 đến ngày 3-1-1979, Quân đoàn 3 phối hợp với 3 tiểu đoàn bộ binh và 6 đội công tác vũ trang bạn mở cuộc tiến công thắng lợi, lần lượt giải phóng các tỉnh Công-pông Thom, Xiêm Riệp, Bát-tam-bang và Puốc-xát.
Cùng thời gian này, trên hướng Quân khu 9 và Quân đoàn 2, các đơn vị tiến công tiêu diệt địch ở các khu vực Ta-pông, Ki-ri-vông, Sê-kê, Prô-chrây, Tun-liếp, Tô-li-ốp, Đông Nam San-tâng, các điểm cao 384, 451, 328; giải phóng Công-pông Trạch, Cam-pốt và cảng Công-pông Xom. Trong khi đó, ở hướng Quân đoàn 4, từ ngày 1 đến ngày 3-1-1979, các đơn vị tiến công địch trên đường số 1 và vùng ven hai bờ sông Mê Công, buộc chúng phải rút về phòng ngự ở các khu vực Sa-cách, Prây-veng và Niếc-lương. Tiếp đó, Quân đoàn 4 tiến công đánh chiếm đường số 10 (đoạn Chân Trai) và bắc ngã ba Tà-hô (nằm trên trục đường số 1, phía Tây Pra-sốt). Trên hướng biển, các đơn vị Hải quân nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ ở vùng biển cực Nam của Tổ quốc được lệnh sẵn sàng chi viện cho các lực lượng chiến đấu trên biển khi cần thiết.
Quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị về giải phóng Phnôm Pênh trước ngày 8-1-1979; đồng thời, căn cứ vào tình hình trên chiến trường, hướng Quân đoàn 4 đang gặp khó khăn, tiền phương Bộ Quốc phòng quyết định bổ sung nhiệm vụ và chuyển hướng tiến công của Quân khu 9 đang phát triển thuận lợi thành hướng tiến công chủ yếu. Đây là quyết định kịp thời, là nhân tố quan trọng tạo nên chiến thắng của Quân tình nguyện Việt Nam trên đất Cam-pu-chia.
Ngày 5-1-1979, các đồng chí Lê Đức Thọ, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh thay mặt Quân ủy Trung ương và tiền phương Bộ Quốc phòng đến Chi Lăng (nơi đóng Sở chỉ huy Quân khu 9) họp và thống nhất giao nhiệm vụ bổ sung cho quân khu. Ngày 6-1-1979, tiền phương Bộ Quốc phòng ra lệnh cho các đơn vị mở cuộc tổng công kích vào thủ đô Phnôm Pênh. Đến 17 giờ ngày 7-1-1979, thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn giải phóng, lá cờ cách mạng của Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia và của Quân tình nguyện Việt Nam tung bay trên nóc Hoàng cung ở thủ đô Phnôm Pênh. Chiến thắng này đã kết thúc ba năm, tám tháng, hai mươi ngày nhân dân Cam-pu-chia sống trong địa ngục trần gian. Thắng lợi đó gắn liền với sự giúp đỡ to lớn của Quân tình nguyện Việt Nam. Ghi nhận sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của cách mạng Việt Nam, cố Quốc vương Cam-pu-chia Nô-rô-đôm Xi-ha-núc từng khẳng định: “Không có chiến thắng 7-1, không có sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam, đất nước Cam-pu-chia không có ngày hôm nay”.
Lịch sử đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Cam-pu-chia vốn đã đầy ắp những sự kiện nhưng càng trở nên sinh động hơn bởi chiến thắng ngày 7-1-1979. Đó là chiến thắng còn mãi âm vang, đồng thời là cơ sở và tiền đề quan trọng để nhân dân hai nước tiếp tục kề vai sát cánh bên nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cùng nhau hướng tới xây dựng đất nước giàu mạnh, góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
TS NGUYỄN VĂN SÁU – THS NGUYỄN TRUNG THÔNG