Từ những chủ trương đúng đắn về mở cửa và hội nhập

Bước ngoặt về hội nhập quốc tế của Việt Nam được ghi nhận từ Đại hội VI của Đảng, khi lần đầu tiên Đảng ta đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Trên nền tảng đó, tại Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991), Đảng xác định chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”, với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Từ thực tiễn triển khai chủ trương và những kết quả bước đầu, nhất là khi Việt Nam gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995, đến Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996), Đảng ta xác định tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế; đồng thời chủ trương xây dựng nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Sáng 11-1-2007, tại trụ sở Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ở Geneva, Thụy Sĩ, treo biểu ngữ “chào mừng Việt Nam” bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Ảnh: TTXVN 

Dự báo đúng tình hình, đường lối và nghị quyết của các kỳ đại hội đảng ngày càng đề cao vai trò của công tác đối ngoại, đặt ra những yêu cầu cao hơn khi Việt Nam hội nhập sâu rộng và có vai trò ngày càng lớn trong các mối quan hệ quốc tế. Đến Đại hội XIII (tháng 1-2021), Đảng ta xác định nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước; gắn kết chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; kiên trì, kiên định đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; đẩy mạnh đưa quan hệ với các đối tác, nhất là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, tăng cường đan xen lợi ích; xử lý linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn. Đây là chủ trương có tính quyết đoán và mạnh mẽ trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp và chịu tác động sâu rộng của đại dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu.

Đến những thành tựu kinh tế đáng ngưỡng mộ

Từ việc chủ động tham gia các cơ chế hợp tác kinh tế, như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam từng bước chuyển từ thế “xin gia nhập” sang thế tham gia ngày càng chủ động, tích cực hơn. Đặc biệt, Việt Nam đã tham gia đàm phán ngay từ đầu để hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)-khuôn khổ hợp tác kinh tế lớn nhất thế giới bao gồm ASEAN và các đối tác. Việt Nam không chỉ tham gia mà còn tích cực đóng góp, thực thi các cam kết và tận dụng mạng lưới hợp tác để thúc đẩy phát triển, thu hút đầu tư, mở rộng thị trường.

Những nỗ lực đối ngoại kinh tế, gắn với phát huy nội lực, đã mang lại các thành quả to lớn. Các báo cáo tổng kết sau 40 năm đổi mới cho thấy, đến nay, Việt Nam có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 220 thị trường trên tất cả các châu lục; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu hút lượng lớn vốn FDI. Công tác đối ngoại góp phần mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác của Việt Nam với nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế; góp phần giữ vững kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn; thúc đẩy tăng trưởng; đẩy mạnh xuất, nhập khẩu; thu hút nguồn lực mới, bao gồm cả FDI, ODA, khoa học-công nghệ; đưa Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong 10 năm gần đây, dù môi trường quốc tế có nhiều tác động tiêu cực, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của nước ta giai đoạn 2016-2025 đạt khoảng 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, trên 5.000USD/người/năm. Đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. So sánh mức thu nhập trung bình của năm 2025 với 40 năm trước, thu nhập bình quân của mỗi người dân Việt Nam đã tăng tới 25 lần.

Thành tựu mà đối ngoại kinh tế mang lại không chỉ là những con số cơ học mà còn có tác động sâu sắc tới nhiều mặt của đời sống xã hội. Cùng với tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng, các cơ chế, chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được hoàn thiện theo hướng hài hòa hóa; các cam kết quốc tế được nội luật hóa để tận dụng tốt hơn cơ hội và hạn chế rủi ro. Vai trò của các thành phần kinh tế theo đó được phát huy; đặc biệt, kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Song hành với hội nhập kinh tế quốc tế, việc thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã góp phần hình thành và ngày càng hoàn thiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hội nhập quốc tế là động lực chiến lược của phát triển

Phát biểu tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định đối nội và đối ngoại có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau như hai cánh của một con chim, tạo thế và lực cho nhau; đồng thời nhấn mạnh đối ngoại ngày nay không chỉ là sự nối tiếp của chính sách đối nội mà còn là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc.

Khi đối ngoại được coi là động lực mạnh mẽ của phát triển, vai trò của đối ngoại kinh tế càng trở nên quan trọng. Từ tâm thế thận trọng, dè dặt trong những ngày đầu mở cửa, đến nay hội nhập đã trở thành sự nghiệp chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Người dân, doanh nghiệp, địa phương, bộ, ngành đều tham gia và có vai trò trong giai đoạn hội nhập mới, góp phần cụ thể vào củng cố vị thế chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia và nâng tầm ảnh hưởng của đất nước.

Ở chiều ngược lại, khi đối ngoại tạo ra điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế bền vững, Việt Nam lại có thêm cơ sở để đóng góp thiết thực hơn cho cộng đồng quốc tế, cho hòa bình, hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam được nhìn nhận như một điểm sáng về xóa đói, giảm nghèo và nỗ lực bảo đảm an sinh xã hội theo tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”. Từ một đất nước từng gắn với chiến tranh và nghèo đói, Việt Nam trở thành biểu tượng của hòa bình và phát triển; là một trong những quốc gia xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới; là một dân tộc giàu lòng nhân ái, sẵn sàng chung tay hỗ trợ bạn bè quốc tế khi cần thiết. Những điều đó không thể đạt được nếu không mở cửa, hội nhập và nếu nền kinh tế không đủ mạnh.

Những thành tựu của hội nhập kinh tế tạo nền tảng quan trọng để Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngày 16-9-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ hội nhập quốc tế là động lực chiến lược trên cơ sở nội lực giữ vai trò quyết định; gia tăng nội lực đi đôi với tranh thủ ngoại lực; gắn kết chặt chẽ hội nhập với bảo vệ lợi ích quốc gia; vừa hợp tác, vừa đấu tranh; chuyển từ tư duy tiếp nhận sang tư duy đóng góp, từ hội nhập chung sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái vươn lên, tiên phong trong những lĩnh vực mới.

Nhìn lại 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những kết quả mà đối ngoại kinh tế và hội nhập quốc tế mang lại trong 4 thập kỷ qua tiếp tục khẳng định đây là một định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đòi hỏi mỗi công dân, mỗi chủ thể trong nền kinh tế, cũng như những người làm công tác đối ngoại không ngừng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực chuyên môn, phát huy tinh thần trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

(còn nữa)