Nhận được thông tin: Nhiều thương binh, bệnh binh trong thời gian điều trị đã mất tại Viện quân y 6, vừa được quy tập về nghĩa trang nhân dân TP Sơn La (tỉnh Sơn La), chúng tôi đã trao đổi với Ban quản lý nghĩa trang nhân dân TP Sơn La và Ban giám đốc Viện quân y 6, được biết: Đây là số cán bộ, chiến sĩ đã tham gia chiến đấu, bị thương, bị bệnh được đưa về điều trị và mất tại Viện quân y 6. Trong số các phần mộ vừa được quy tập, có tên các tử sĩ sau:

1-ĐINH VĂN THỨC, quê quán: Xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; mất ngày: 1-5-1961.

2-NGUYỄN THỊ MINH; quê quán: Xã Cát Trù, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; mất ngày: 20-5-1960.

3-NGUYỄN NGỌC ĐÁP, sinh năm 1941, quê quán: Xã Minh Xương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; mất ngày: 1-4-1962.

4-ĐÀM VĂN CHẨN, quê quán: Xã Liên Phương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

5-LÊ VĂN NGỌ, sinh năm 1942, quê quán: Thôn An Phú, xã Mỹ An, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; mất ngày: 13-4-1965.

6-NGUYỄN VĂN PHÚ, quê quán: Thôn Hữu Nghị, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; mất ngày: 8-8-1966.

7-PHẠM VĂN ĐÀI, sinh năm 1940, quê quán: Xã Thanh Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; mất ngày: 25-2-1960.

8-MAI COONG, quê quán: Xã Thạch Ký, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; mất ngày: 18-4-1961.

9-BÙI VĂN LANG, quê quán: Xã Xuân Hà, huyện Thư Trì (nay thuộc huyện Vũ Thư), tỉnh Thái Bình; mất ngày 5-5-1959.

10-HOÀNG VĂN CHÍNH, quê quán: huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; mất năm: 1962.

11-NGUYỄN VĂN TỤ, quê quán: Xã Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; mất ngày: 13-4-1951.

12-HOÀNG VĂN THẢO, quê quán: Xã Việt Hùng, huyện Thường Tín, Hà Nội; mất ngày: 23-12-1965.

13-PHẠM VĂN VỎ, sinh năm: 1948, quê quán: Xã Liên Minh, huyện Đan Phượng, Hà Nội; mất ngày: 17-5-1955.

14-NGUYỄN VĂN THỤ, quê quán: Đại Thanh (thuộc Hà Tây cũ); mất ngày: 10-10-1959.

15-LÊ VĂN THĂNG, quê quán: Xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam; mất ngày: 6-3-1966.

16-PHẠM VĂN TÀO, quê quán: Xã Chiến Thắng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

17-PHẠM VĂN LIÊM, sinh năm 1945, quê quán: Xã Cẩm Tiến, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; mất ngày: 13-10-1964.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Tỵ, Giám đốc Viện quân y 6, Quân khu 2 thì: Viện quân y 6 (trước thuộc Quân khu Tây Bắc, nay là Quân khu 2) được thành lập năm 1957. Viện có nhiệm vụ khám chữa bệnh, điều trị phục vụ thương binh, bệnh binh tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại khu vực Tây - Bắc và nước bạn Lào. Trong quá trình điều trị, nhiều đồng chí do vết thương quá nặng đã mất tại Viện. Do điều kiện chiến tranh, nên việc tổ chức an táng những đồng chí mất tại viện được tiến hành tại một số địa điểm rải rác trên địa bàn tỉnh Sơn La. Khi đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mất tại Viện, trong bệnh án chỉ ghi là tử sĩ. Sau đó bệnh án được Viện bàn giao lại cho cơ quan chính sách nghiên cứu, giải quyết chế độ theo quy định cho các tử sĩ.

Trường hợp một số tử sĩ chưa xác định được tên, quê quán, Đại tá Nguyễn Văn Tỵ cho rằng: Đây có thể là số cán bộ, chiến sĩ khi điều trị đã mất tại các phân viện thuộc Quân khu Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Sau này các phân viện trên sáp nhập lại thành lập Viện quân y 6.

Thân nhân các tử sĩ trên, cần biết thêm thông tin xin liên hệ với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội TP Sơn La, tỉnh Sơn La.

Chuyên mục “Thông tin về mộ liệt sĩ” – Báo Quân đội nhân dân, số 7 - Phan Đình Phùng, Hà Nội. Điện thoại: 069.554119; 04.37478610; 0974.2222.74. Thư điện tử: chinhtriqdnd@yahoo.com.vn.