Sau thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, Mỹ-ngụy rơi vào thế bị động. Tại Trị Thiên, Sư đoàn 324 và 325 cùng lực lượng vũ trang (LLVT) B5 liên tục tiến công, kết hợp với những trận pháo kích lớn vào các căn cứ địch, buộc Mỹ-ngụy phải đưa lực lượng lớn cùng nhiều vũ khí, trang bị hiện đại ra chiến trường nhằm tăng cường phòng thủ, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam; giữ cho ngụy quân, ngụy quyền trong khu vực khỏi bị tan rã. Trên khu vực Đường 9-Khe Sanh, địch có khoảng 45.000 quân (trong đó có 28.000 quân Mỹ). Địch tổ chức phòng ngự tương đối hoàn chỉnh, với công sự vững chắc, hệ thống hoả lực mạnh, khả năng cơ động nhanh và được không quân, pháo binh ở phía sau chi viện tối đa.

Quân ủy Trung ương nhận định: Thời cơ đã đến và quyết định mở chiến dịch Đường 9-Khe Sanh nhằm tiêu diệt sinh lực địch, chủ yếu là quân Mỹ; phá vỡ một bộ phận hệ thống phòng ngự của địch trên Đường 9; thu hút địch ra càng nhiều càng tốt, giữ chân chúng ở Đường 9, hỗ trợ cho quân và dân ta trên toàn miền Nam tổng tiến công nổi dậy đồng loạt đầu Xuân 1968.

Ngày 06/12/1967, Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường 9-Khe Sanh được thành lập do đồng chí Trần Qúy Hai làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính uỷ, Đại tá Trần Thọ-Phó chủ nhiệm, kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần (TCHC) làm Phó Tư lệnh, kiêm Chủ nhiệm hậu cần Chiến dịch. Lực lượng tham gia gồm: Sư đoàn bộ binh 304, 320, 324 và 325; 1 tiểu đoàn và 5 đại đội đặc công; 5 trung đoàn pháo binh; 3 trung đoàn pháo phòng không; 1 tiểu đoàn xe tăng; 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh; 1 đại đội súng phun lửa; 6 tiểu đoàn vận tải ... cùng bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị và LLVT các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa. Tổng quân số khoảng 57.500 người.

Bộ đội hậu cần vận chuyển vật chất hậu cần phục vụ chiến dịch Đường 9-Khe Sanh (1968). Ảnh tư liệu 

Đây là chiến dịch do Bộ Quốc phòng mở và trực tiếp chỉ huy, tổ chức tiến công trên hai hướng: Hướng Tây là hướng chủ yếu, hướng Đông là hướng quan trọng. Công tác bảo đảm hậu cần (BĐHC) do TCHC trực tiếp chỉ đạo thông qua bộ máy hậu cần chiến dịch. Nhu cầu bảo đảm cho Chiến dịch khoảng 26.700 tấn vật chất các loại.

Theo sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, ngay từ giữa năm 1967, TCHC đã nghiên cứu, lập kế hoạch BĐHC. Sau khi kế hoạch được thông qua (giữa tháng 11/1967), TCHC chỉ thị cho các cục nghiệp vụ, Tiền phương Tổng cục cùng Đoàn 559 phối hợp và khẩn trương chuẩn bị cho Chiến dịch. TCHC điều động 343 cán bộ, chiến sĩ từ các cơ quan, cơ sở của Tổng cục; Bộ Tổng Tham mưu tăng cường 271 cán bộ, chiến sĩ hậu cần của các quân khu, quân chủng, binh chủng... về để tổ chức cơ quan, phân đội hậu cần chiến dịch.

Hậu cần Chiến dịch đã triển khai các căn cứ hậu cần (CCHC) bảo đảm cho tác chiến. Hướng tây, TCHC đưa lực lượng vào triển khai 2 căn cứ và 1 phân căn cứ. Căn cứ Bắc (A1) ở Cha Ky, La Tương, Làng Sen (bắc Đường 9). Căn cứ Nam (A3) ở Tam Luông, Pê Luông, Tô Lin (nam Đường 9). Phân căn cứ A2 trên trục Đường 9. Trên hướng Đông, Hậu cần Chiến dịch dựa vào cơ quan và các phân đội hậu cần của Mặt trận B5 đã triển khai từ trước để củng cố, điều chỉnh cho phù hợp, hình thành căn cứ phía sau ở khu vực bắc núi Thị Vệ, nam Thạch Bàn; căn cứ phía trước ở khu vực bắc Bến Quang, Bồ Hồ Sứ, nam sông Bến Hải để bảo đảm cho các đơn vị ở bờ nam sông Bến Hải tới Đường 9.

Để bảo đảm kịp thời vật chất cho các lực lượng, ngay sau khi bộ máy Hậu cần Chiến dịch thành lập, lực lượng vận tải quân sự chiến lược và Mặt trận B5 đã khẩn trương vận chuyển chuẩn bị cho Chiến dịch. Đến ngày 20/1/1968, trên hướng Tây, Hậu cần Chiến dịch đã tiếp nhận, dự trữ 1.631 tấn gạo, 108 tấn thực phẩm, 640 tấn đạn và 50 tấn hàng khác. Trên hướng Đông, Hậu cần Chiến dịch đã tiếp nhận, dự trữ 2.137 tấn gạo, 238 tấn thực phẩm, 2.320 tấn đạn, 300 tấn xăng dầu, 200 tấn hàng khác. Toàn Chiến dịch đã chuẩn bị được 7.624 tấn vật chất (đạt 81,1% kế hoạch), đủ khả năng bảo đảm cho các đơn vị tác chiến.

Ngày 20/1/1968, chiến dịch mở màn và trải qua 4 đợt. Đợt 1 (20/1-07/02), ta tiến công quận lỵ Hướng Hóa và cứ điểm Huội San (24/1/1968), diệt cứ điểm Làng Vây (từ 06-07/02/1968), làm chủ đoạn Đường 9 từ Cà Tu đến biên giới Việt-Lào. Đợt 2 (từ 10/02-31/3), ta phát triển lên vây lấn Tà Cơn, Khe Sanh trong gần 2 tháng và diệt nhiều địch; đồng thời bao vây Cồn Tiên và đánh một số trận ở hướng Đông Quốc lộ 1. Đợt 3 (từ 01-30/4), ta đánh địch ứng cứu, giải tỏa Khe Sanh, giữ vững các khu vực Làng Khoai, Cu Bốc, các điểm cao 689 và 622, triệt phá giao thông trên Đường 9, nhưng bị địch chiếm lại một số trận địa ở phía Nam và Tây Nam Tà Cơn. Đợt 4 (từ 08/5-15/7), ta khôi phục thế vây lấn Tà Cơn, đánh địch rút chạy khỏi Khe Sanh. Sau gần 6 tháng tác chiến liên tục, ngày 15/7/1968, Chiến dịch Khe Sanh kết thúc thắng lợi.

Quá trình tác chiến, địch đánh phá rất ác liệt các tuyến vận tải, nhất là trên hướng Tây. Khắc phục mọi khó khăn, các lực lượng vận tải chiến lược, chiến dịch đã vận chuyển bổ sung vật chất kịp thời cho các đơn vị. Đến cuối tháng 6/1968 vật chất dự trữ toàn chiến dịch là 22.253 tấn; tiêu thụ 15.923 tấn (71,5%). Mỗi ngày, bộ đội được bảo đảm từ 763-800g gạo, 70-80g thực phẩm, 20g muối, 20g đường sữa (riêng rau xanh chưa bảo đảm được định lượng). Do được nuôi dưỡng tốt, cùng với vệ sinh phòng bệnh chu đáo, quân số khỏe đạt 95-97%. Trong chiến dịch, bộ đội ta bị thương vong 20.435 người (35,3% quân số), trong đó có 11.683 thương binh. Quân y chiến dịch đã tăng cường khả năng phẫu thuật lên tuyến trước. Các đội điều trị đã triển khai thành 2 tuyến gồm: 3 đội tiếp cận các tiểu đoàn quân y sư đoàn; 4-8 đội triển khai ở các CCHC làm tuyến sau tiếp tục cứu chữa thương binh. Quá trình Chiến dịch đã vận chuyển nhanh thương binh về các tuyến quân y; thu dung, chữa khỏi, trả về đơn vị 6.744 thương binh và 5.560 bệnh binh tham gia chiến đấu.

Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh là chiến dịch quy mô lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng, sử dụng nhiều chủng loại vũ khí trang bị kỹ thuật (130 khẩu pháo mặt đất xe kéo từ 100mm trở lên, 150 khẩu pháo cao xạ từ 37mm trở lên, 187 xe tăng xe xích, 821 xe ô tô...) nên bảo đảm kỹ thuật là nhiệm vụ nặng nề của hậu cần Chiến dịch. Trong giai đoạn chuẩn bị, TCHC và Hậu cần Chiến dịch đã tổ chức kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cao hệ số kỹ thuật xe pháo, cụ thể: Pháo mặt đất từ 87% lên 96%; pháo cao xạ từ 90% lên 98%; xe cơ giới các loại từ 74% lên 92%. Trong tác chiến đã tổ chức trạm sửa chữa xe và vũ khí ở các CCHC chiến dịch; các trung đoàn binh chủng và sư đoàn bộ binh đều tổ chức trạm sửa chữa nhỏ, tổ sữa chữa cơ động, kịp thời bảo dưỡng, sửa chữa, giữ vững hệ số kỹ thuật, tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các đơn vị. Tuy nhiên, trang bị, vật chất kỹ thuật còn mất mát lớn, lãng phí nhiều đã ảnh hưởng đến sức chiến đấu.

Trong chiến dịch Đường 9-Khe Sanh, bộ đội chủ lực ta vây hãm dài ngày một tập đoàn cứ điểm mạnh, gồm nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ-ngụy. Ta hoàn toàn làm chủ khu vực Khe Sanh, phá vỡ một đoạn dài trên tuyến phòng ngự Đường 9 của Mỹ-ngụy; loại khỏi chiến đấu 11.900 tên địch, bắn rơi 197 máy bay, bắn chìm và cháy 80 tàu vận tải, phá hủy 78 xe quân sự (có 8 xe tăng), 46 khẩu pháo, cối; giải phóng huyện Hướng Hóa với gần 10.000 dân, mở thông hành lang chiến lược Bắc-Nam, tạo thuận lợi cho các chiến trường, trước hết là Thừa Thiên-Huế giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện khen quân và dân Đường 9-Khe Sanh: “Thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam từ đầu Xuân đến nay. Cùng với thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp, trong đó công tác hậu cần góp phần quan trọng. Đây là lần đầu tiên ta tổ chức bảo đảm hậu cần cho chiến dịch quy mô lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng liên tục gần 6 tháng, sử dụng nhiều hình thức tác chiến, với đối tượng là những đơn vị chủ lực tinh nhuệ của Mỹ-ngụy. Thành công đó để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về tổ chức chỉ huy, chỉ đạo, chuẩn bị và thực hành bảo đảm hậu cần chiến dịch. Các kinh nghiệm đó đã được nghiên cứu, vận dụng, phát huy hiệu quả trong các chiến dịch tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ và sau này.

Đại tá, Ths TRẦN ĐÌNH QUANG

Bộ Tham mưu-TCHC