Xuất khẩu dầu của Mỹ có thể tăng nhanh
Theo các số liệu thống kê của công ty phân tích thị trường Kpler, hơn 70 siêu tàu chở dầu (VLCC) đang trên đường tới vùng vịnh Mỹ (trước đây gọi là vùng Vịnh Mexico) trong tháng 4 và 5-2026 để nhận hàng, mức tăng cao đột biến so với con số trung bình khoảng 27 tàu/tháng của năm 2025. Đặc biệt, mỗi siêu tàu này có thể chở tới khoảng 2 triệu thùng dầu và được thiết kế tối ưu cho những hành trình dài vượt hàng chục nghìn hải lý.
 |
| Một tàu hàng di chuyển trên khu vực eo biển Hormuz. Ảnh: Reuters |
Nguyên nhân chính được cho là đến từ nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu dài hạn từ khu vực Trung Đông. Kế hoạch kiểm soát eo biển Hormuz của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể khiến khoảng 2 triệu thùng dầu/ngày của Iran không thể lưu thông. Ở chiều ngược lại, Iran cũng sẽ có các biện pháp đáp trả để ngăn chặn hoặc kiểm soát các tàu chở dầu liên quan đến Mỹ và các đồng minh của Mỹ trong khu vực. Trong bối cảnh khoảng 20% nguồn cung dầu và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu bị “mắc kẹt” tại khu vực này, nhiều quốc gia châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc đã buộc phải tìm nguồn cung thay thế. Trong tình thế đó, Mỹ nổi lên như một lựa chọn khả dĩ. Tổng thống Donald Trump thậm chí công khai chào đón làn sóng tàu chở dầu trống đổ về Mỹ và cho rằng đây là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu dầu mỏ của Mỹ.
Xuất khẩu dầu thô của Mỹ được dự báo đạt mức kỷ lục khoảng 5 triệu thùng/ngày trong tháng này, vượt xa mức trung bình 4 triệu thùng/ngày của năm ngoái. Ngoài ra, nước Mỹ còn xuất khẩu khoảng 3 triệu thùng/ngày với các sản phẩm từ dầu mỏ như xăng, nhiên liệu bay và dầu diesel.
Tuy nhiên, khả năng mở rộng xuất khẩu dầu mỏ của Mỹ cũng có những “điểm nghẽn” nhất định. Dù nước này sản xuất khoảng 13 triệu thùng dầu/ngày, nhưng phần lớn sản lượng trên đã được phân bổ cho các đối tác. Thêm vào đó, các cảng biển xuất khẩu dầu chính của Mỹ tại các tiểu bang Texas và Louisiana không còn nhiều dư địa để tiếp nhận thêm tàu. Giới hạn lớn nhất nằm ở hạ tầng của các cảng biển này. Công suất của các cảng biển và khả năng đảm bảo dịch vụ cho tàu chở dầu cỡ lớn đã gần chạm ngưỡng tối đa trong những năm gần đây. Dù một số dự án mở rộng đang được triển khai tại một số khu vực, như nâng cấp cảng Corpus Christi hay mở rộng kho chứa tại Texas, tốc độ nâng cấp vẫn chưa theo kịp nhu cầu gia tăng đột biến của hoạt động xuất khẩu dầu mỏ.
 |
| Các siêu tàu chở dầu nhận hàng tại cảng Corpus Christi (tiểu bang Texas, Mỹ) năm 2022. Ảnh: Reuters |
Tác động ngược với thị trường trong nước
Điểm đáng chú ý là sự gia tăng hoạt động xuất khẩu không đi kèm với tăng sản lượng tương ứng. Các nhà sản xuất dầu thô Mỹ vẫn thận trọng, chưa vội mở rộng khai thác do lo ngại giá dầu tăng chỉ mang tính chất ngắn hạn.
 |
| Tổng thống Mỹ Donald Trump trả lời truyền thông sau khi đưa ra lệnh phong tỏa eo biển Hormuz. Ảnh: Getty |
Hệ quả là lượng dầu tồn kho trong nước của Mỹ có xu hướng giảm, kéo theo giá nhiên liệu tăng lên. Giá xăng trung bình tại Mỹ đã lên tới 4,13 USD/gallon, tăng mạnh so với thời điểm trước khi xung đột Trung Đông xảy ra. Giá dầu thô Mỹ cũng tăng lên hơn 99 USD/thùng sau khi có thông tin về kế hoạch phong tỏa eo biển Hormuz của Hải quân Mỹ.
Một nguy cơ khác đang dần hiện hữu, đó là “suy giảm nhu cầu”. Sự tăng giá năng lượng kéo dài có thể gây ra suy thoái kinh tế, đồng thời cũng làm giảm nhu cầu sử dụng của người dân và doanh nghiệp. Theo dữ liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), nhu cầu tiêu thụ xăng dầu của Mỹ trong tuần này đã giảm khoảng 100.000 thùng mỗi ngày, tương đương 1,4%.
Ông Andy Lipow, Chủ tịch của Lipow Oil Associates, công ty tư vấn chuyên sâu về lĩnh vực năng lượng và dầu khí, có trụ sở đặt ở Houston (Mỹ) cho rằng, đây có thể là một thắng lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu dầu mỏ và doanh nghiệp logistics Mỹ, nhưng khó có thể được xem là “chiến thắng” đối với người dân trong bối cảnh giá cả leo thang.
Trong ngắn hạn, Mỹ có thể tận dụng cơ hội để mở rộng xuất khẩu và củng cố vai trò nhà cung cấp năng lượng. Tuy nhiên, cái giá phải trả là áp lực lạm phát năng lượng trong nước – một yếu tố có thể tác động ngược trở lại nền kinh tế.