Qua các cuộc kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống “Trung thành, tự lực, đoàn kết, anh dũng, chiến thắng” được bồi đắp bằng sự hy sinh, cống hiến của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Bước vào kỷ nguyên mới, mạch nguồn ấy tiếp tục được khơi dậy bằng bản lĩnh, trí tuệ, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng cống hiến, tạo động lực để LLVT Quân khu 2 nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, giữ vững biên cương, bảo vệ cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.
Từ Chiến khu 10 đến những chiến công chói lọi
Ngày 19-10-1946, Chiến khu 10, tiền thân của Quân khu 2, được thành lập khi tình hình đất nước đứng trước những thử thách cam go, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp đang đến gần. Trên miền đất Tây Bắc rộng lớn, núi cao, vực thẳm, sông sâu, đường sá cách trở, địa hình chia cắt, lực lượng ban đầu còn mỏng, trang bị thiếu thốn, cán bộ, chiến sĩ vẫn vững niềm tin, dựa vào dân, cùng nhân dân xây dựng thế trận, giữ đất, giữ làng. Từ những gian khó thuở đầu, tình quân dân ngày càng bền chặt, tạo nên sức mạnh để LLVT từng bước trưởng thành, góp phần giữ vững địa bàn chiến lược, đặt nền móng xây dựng LLVT Quân khu 2 vững mạnh hôm nay.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Tây Bắc kiên cường bám đất, bảo vệ căn cứ, góp sức cùng cả nước làm nên những chiến công vang dội. Qua các chiến dịch Việt Bắc, Tây Bắc, Thượng Lào, thế và lực của cuộc kháng chiến từng bước được củng cố, tạo tiền đề tiến tới thắng lợi quyết định. Đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, nơi ý chí chiến đấu của bộ đội hòa quyện với sức mạnh của hậu phương nhân dân. Bộ đội kiên cường giữ vững trận địa; những đoàn dân công vượt núi, tải đạn, vận lương; đồng bào góp sức, góp của, cùng làm nên chiến thắng chấn động địa cầu.
 |
| Đoàn đại biểu Quân khu 2 báo công dâng Bác tại Đền Hùng. Ảnh: HOÀNG TRUNG |
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Bắc vừa trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa góp phần xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Gần 21 vạn thanh niên các dân tộc Tây Bắc đã lên đường chiến đấu; lực lượng phòng không ba thứ quân trên địa bàn bắn rơi 339 máy bay Mỹ. Trên chiến trường miền Nam, Sư đoàn 316 tham gia trận Buôn Ma Thuột, mở màn Chiến dịch Tây Nguyên; Sư đoàn 304 cùng các cánh quân tiến vào Sài Gòn, góp phần giải phóng miền Nam mùa Xuân 1975. Trí tuệ, công sức và máu xương của con em các dân tộc Tây Bắc hòa chung vào thắng lợi của dân tộc, đưa đất nước đến ngày thống nhất.
Truyền thống hào hùng của LLVT Quân khu còn được viết trên đất bạn Lào anh em. Hàng vạn chuyên gia quân sự, Quân tình nguyện là con em các dân tộc Tây Bắc đã kề vai sát cánh cùng quân và dân Lào chiến đấu chống kẻ thù chung, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào.
Ghi nhận những chiến công, thành tích trong suốt 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân khu 2 được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương Sao Vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công. Trên địa bàn Quân khu, 317 tập thể, 119 cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân; 3.149 bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cùng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý khác. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống, LLVT Quân khu 2 vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Niềm tự hào lớn lao ấy nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ về sự hy sinh, cống hiến của các thế hệ cha anh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Mọi chiến công đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự đùm bọc, giúp đỡ, chở che của đồng bào và sự hy sinh, cống hiến bền bỉ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ.
Thế trận vững từ lòng dân
Đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Bắc rộng lớn, hiểm trở, có đường biên giới dài, dân cư phân bố không đồng đều, điều kiện phát triển giữa các vùng còn chênh lệch, LLVT Quân khu 2 càng thấm sâu bài học “dựa vào dân” được hun đúc qua các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện mới, xây dựng thế trận quốc phòng phải gắn với củng cố lực lượng và vun đắp "thế trận lòng dân" vững chắc. Vì vậy, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu luôn coi trọng phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, chăm lo đời sống nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới. Mỗi công trình dân sinh, mỗi hoạt động giúp dân, mỗi việc làm thiết thực của cán bộ, chiến sĩ đều góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đoàn kết quân dân, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
 |
| Lãnh đạo Quân khu 2 và lãnh đạo tỉnh Phú Thọ kiểm tra cơ sở vật chất tại Phân hiệu 1, Trường Thiếu sinh quân miền Bắc. Ảnh: TRỌNG HÙNG |
Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân khu 2 xác định xây dựng phòng thủ Quân khu, khu vực phòng thủ các địa phương vững chắc là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, phải được tiến hành chủ động, đồng bộ, sát thực tiễn địa bàn. Cơ quan quân sự các cấp phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tham mưu điều chỉnh quy hoạch, thế bố trí quốc phòng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; rà soát, bổ sung kế hoạch, phương án tác chiến, bảo vệ mục tiêu trọng yếu, không để hình thành khoảng trống về quốc phòng, an ninh. Đồng thời, thường xuyên nắm chắc tình hình từ cơ sở, nhất là địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa; duy trì nghiêm chế độ trực, nâng cao khả năng chỉ huy, hiệp đồng giữa lực lượng quân sự, công an, biên phòng và các lực lượng tại chỗ. Chủ động nhận diện sớm, xử trí kịp thời các tình huống ngay từ cơ sở, góp phần giữ vững thế chủ động, bảo đảm địa bàn ổn định, an toàn, tạo điều kiện để Quân khu hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Cùng với xây dựng thế trận, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, gắn với xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật; chú trọng rèn luyện khả năng cơ động trên địa hình rừng núi, làm chủ vũ khí, trang bị, nâng cao trình độ hiệp đồng và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong điều kiện phức tạp. Lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ được xây dựng vững mạnh, huấn luyện sát nhiệm vụ, địa bàn và yêu cầu phòng thủ dân sự. Cấp ủy, chỉ huy các cấp coi trọng kết quả thực chất, kiên quyết khắc phục những hạn chế trong tổ chức huấn luyện, diễn tập, quản lý kỷ luật và bảo đảm an toàn.
Trước diễn biến ngày càng phức tạp của thiên tai, LLVT Quân khu 2 luôn phát huy vai trò nòng cốt, xung kích, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Các cơ quan, đơn vị chủ động rà soát, nắm địa bàn, dự báo nguy cơ, luyện tập phương án, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, duy trì khả năng sẵn sàng cơ động, xử trí kịp thời các tình huống. Trong các đợt mưa lũ, sạt lở thời gian qua, tại Làng Nủ, xã Phúc Khánh (tỉnh Lào Cai); các xã: Chiềng Sơ, Huổi Một, Sông Mã, Sốp Cộp (tỉnh Sơn La), Na Son, Xa Dung, Tìa Dình (tỉnh Điện Biên), Mường Than (tỉnh Lai Châu), cán bộ, chiến sĩ không quản hiểm nguy, băng rừng, vượt suối, khẩn trương sơ tán người dân, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả, tu sửa đường sá, nhà cửa, trường học, giúp đồng bào từng bước ổn định cuộc sống. Những việc làm nghĩa tình ấy thể hiện tinh thần “vì nhân dân phục vụ” của cán bộ, chiến sĩ, đúng với yêu cầu của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Bộ đội chủ động đến với dân, không chờ dân gặp khó khăn phải tìm đến bộ đội; ở đâu có khó khăn, hiểm nguy, ở đó có bộ đội.
Trên tuyến biên giới Tây Bắc, các đoàn kinh tế-quốc phòng và đơn vị LLVT Quân khu 2 luôn đồng hành với đồng bào. Mỗi việc làm của cán bộ, chiến sĩ đều hướng đến nhu cầu thiết thực của nhân dân, tôn trọng phong tục, tập quán, phát huy vai trò của người có uy tín, khơi dậy ý thức, trách nhiệm của đồng bào trong giữ gìn an ninh thôn, bản, bảo vệ từng tấc đất biên cương. Các đơn vị đẩy mạnh rà phá bom, mìn, vật nổ; tích cực thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; tăng cường đối ngoại quốc phòng, góp phần xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Từ những việc làm cụ thể, thiết thực ấy, "thế trận lòng dân" ngày càng bền chặt, biên cương thực sự trở thành phên giậu vững chắc của Tổ quốc.
Không ngừng nâng cao sức mạnh bảo vệ Tổ quốc
Bước vào kỷ nguyên mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với LLVT Quân khu 2. Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm thay đổi sâu sắc phương thức tác chiến, quản lý, chỉ huy. Trên địa bàn, thiên tai, dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ; các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, không gian mạng để xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn đó đòi hỏi LLVT Quân khu 2 tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Đảng bộ Quân khu thành chương trình hành động sát nhiệm vụ, địa bàn và yêu cầu tác chiến trong tình hình mới.
Trọng tâm là xây dựng Đảng bộ Quân khu trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp phải đề cao trách nhiệm nêu gương, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện nghiêm quy chế làm việc; tăng cường tự phê bình và phê bình, khắc phục dứt điểm những hạn chế ngay từ cơ sở. Công tác giáo dục chính trị phải bám sát tình hình tư tưởng bộ đội, yêu cầu nhiệm vụ và đặc thù đơn vị; chú trọng quán triệt, thực hiện hiệu quả “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa”, phương châm “5 vững”, “6 rõ”, tinh thần “7 dám” gắn với 4 định hướng chiến lược.
Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”; Chỉ thị số 76/CT-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường công tác giáo dục chính trị, quản lý tư tưởng, duy trì kỷ luật và bảo đảm an toàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Chỉ thị số 676-CT/QUTW của Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phát huy giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác tư tưởng; nâng cao khả năng nhận diện thông tin sai trái, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn và sử dụng mạng xã hội; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của cán bộ, chiến sĩ, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong thực hiện nhiệm vụ.
Quân khu tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh; nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và khả năng xử trí các tình huống. Nội dung huấn luyện phải sát đối tượng tác chiến, nhiệm vụ, địa hình rừng núi, biên giới; chú trọng khả năng cơ động, hiệp đồng quân, binh chủng, bảo đảm thông tin, hậu cần, kỹ thuật trong điều kiện phức tạp. Diễn tập khu vực phòng thủ phải kiểm nghiệm thực chất cơ chế lãnh đạo, điều hành của địa phương, trình độ chỉ huy của cơ quan quân sự và khả năng phối hợp giữa các lực lượng, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cùng với lực lượng thường trực, chú trọng xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao; dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ địa bàn, phòng thủ dân sự và giúp dân ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
Trên địa bàn Quân khu, nơi nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi bản làng, mỗi mái nhà đều gắn với thế trận quốc phòng toàn dân. Vì vậy, công tác dân vận phải được tiến hành thường xuyên, sâu sát, bằng những việc làm cụ thể, xuất phát từ cuộc sống và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thực sự gần dân, hiểu dân, tôn trọng phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào; chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động, góp phần giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh ngay từ cơ sở, đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục đồng hành với nhân dân, hỗ trợ phát triển sản xuất, giảm nghèo bền vững, chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Qua đó, giúp đồng bào ổn định cuộc sống, khơi dậy ý thức tự quản, trách nhiệm bảo vệ quê hương, cùng giữ đất, giữ bản, giữ bình yên biên giới; làm cho "thế trận lòng dân" ngày càng vững chắc, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Trong hành trình 80 năm, từng địa danh, trận đánh, chiến công, mỗi bước trưởng thành của LLVT Quân khu 2 đều in đậm dấu chân, mồ hôi, máu xương của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và sự đồng hành, đùm bọc, sẻ chia của đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Những giá trị ấy là điểm tựa tinh thần quý báu, là nguồn sức mạnh để mỗi cán bộ, chiến sĩ hôm nay tiếp tục phấn đấu, cống hiến. Tự hào về các thế hệ đi trước đã viết nên những trang sử vàng son, LLVT Quân khu 2 quyết tâm viết tiếp truyền thống bằng chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu, hiệu quả công tác dân vận, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và tinh thần đổi mới trong từng nhiệm vụ; xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.