Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là cán bộ của Đảng, Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực quân sự; là lực lượng nòng cốt, thành phần chủ yếu trong đội ngũ cán bộ quân đội. Sĩ quan Quân đội đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý hoặc trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ khác, bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Với vai trò và vị trí như vậy, địa vị pháp lý của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã được quy định tại Hiến pháp và các đạo luật, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng đặc biệt này.

Đặt nền móng đầu tiên cho những quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của sĩ quan là Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1958, được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa biểu quyết thông qua tại phiên họp ngày 31-5-1958. Tại đạo luật này, những nghĩa vụ và quyền lợi cơ bản của sĩ quan như hạn tuổi phục vụ, chấp hành mệnh lệnh, nhiệm vụ, khen thưởng… đã được quy định, tạo cơ sở cho các văn bản quy định về địa vị pháp lý của sĩ quan sau này kế thừa và phát triển.

Có thể thấy rằng, ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, địa vị pháp lý của sĩ quan quy định tại đạo luật này chủ yếu là nghĩa vụ và trách nhiệm. Tại Chương 4 (nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan), ngoài quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định tại Hiến pháp thì quyền lợi về chế độ chính sách của sĩ quan là “nghỉ phép năm trong thời bình” và khen thưởng khi “lập được công trạng”. Trong khi đó nghĩa vụ, trách nhiệm của sĩ quan vô cùng lớn lao. Điều đó xuất phát từ bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng hy sinh, vì nhân dân mà phục vụ”, đề cao yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc của quân đội, đáp ứng những yêu cầu khách quan của lịch sử.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa: qdnd.vn.

Sau này, Luật Sĩ quan 1981, Luật Sĩ quan sửa đổi bổ sung năm 1991, Luật Sĩ quan 1999 và các lần sửa đổi, bổ sung được ban hành trong thời kỳ đất nước đã hòa bình, thống nhất, kinh tế xã hội phát triển thì địa vị pháp lý của sĩ quan cũng tiệm cận gần hơn với quyền và nghĩa vụ của người lao động trong điều kiện bình thường, với sự cân bằng tương đối về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm. Theo đó, những quyền lợi tối thiểu về chế độ tiền lương, phụ cấp, chế độ nghỉ ngơi… đã  được bổ sung và dần hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý trong việc bảo đảm chế độ chính sách cho sĩ quan. Tại Luật Sĩ quan 1981, từ Điều 39 đến Điều 43 quy định về chế độ lương, học tập, đào tạo và các chế độ ưu tiên khác, đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội (cụ thể là chế độ hưu) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc bảo đảm chế độ chính sách đối với sĩ quan. Chế định về quyền và nghĩa vụ của sĩ quan dần được bổ sung trong Luật Sĩ quan được ban hành sau này, theo đó quyền được bảo đảm về nhà ở, về chế độ chăm sóc sức khỏe cho bản thân và thân nhân sĩ quan đã dần được bổ sung và hoàn thiện.

Tuy nhiên, tính đặc thù về địa vị pháp lý của sĩ quan cần được hiểu đúng và hoàn thiện tương xứng với yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới.

Thứ nhất, bản thân sĩ quan phải đáp ứng những yêu cầu cao về những tiêu chuẩn riêng có so với chủ thể người lao động khác trong hệ thống pháp luật. Tại Điều 12 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, quy định chi tiết những yêu cầu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ chính trị, khoa học chính trị, kiến thức về văn hóa, kinh tế, xã hội, pháp luật; năng lực hoạt động thực tiễn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; lý lịch, tuổi đời và sức khỏe. Đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và Nhân dân, với Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ hai, đó là sự khác biệt trong quan hệ lao động

Đối với người lao động nói chung, địa vị pháp lý sẽ thứ tự là quyền - nghĩa vụ và trách nhiệm (Điều 5 Bộ Luật lao động) với 5 nhóm quyền lợi cơ bản và 3 nhóm nghĩa vụ; thêm vào đó tại Điều 7 Bộ Luật Lao động quy định 7 nhóm hành vi bị nghiêm cấm và chế định về tổ chức công đoàn đều hướng về phía người sử dụng lao động và các chủ thể khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Ngay cả đối với quân nhân chuyên nghiệp (lực lượng nòng cốt của đội ngũ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và bảo đảm cho công tác lãnh đạo, chỉ huy quản lý; thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và các nhiệm vụ khác của quân đội), mặc dù chế độ, chính sách được bảo đảm như sĩ quan thì địa vị pháp lý cũng thứ tự là quyền - nghĩa vụ (Điều 6 Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng). Trong khi đó, tại hệ thống các đạo luật quy định về địa vị pháp lý của sĩ quan các thời kỳ thì nghĩa vụ, trách nhiệm bao giờ cũng được đặt lên trước. 

Nếu như trong các quan hệ lao động thông thường, sự thỏa thuận về tiền lương, điều kiện làm việc, phương tiện làm việc là yếu tố quyết định mà ở đó người lao động có quyền tự chủ, tùy thuộc vào năng lực, khả năng đáp ứng và nhu cầu của bản thân. Nhưng đối với “người lao động” đặc biệt là sĩ quan, thì người sử dụng lao động là nhân dân, là Nhà nước. Khách thể của quan hệ lao động đặc biệt này rất thiêng liêng và trừu tượng, đó là chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, là độc lập tự do, là sự bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. “Thỏa thuận lao động” là chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh của cấp trên và sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.  “Địa điểm làm việc” có thể là biên giới, hải đảo, là địa bàn chiến lược đầy khó khăn, gian khổ… “Phương tiện làm việc” là vũ khí, trang thiết bị quân sự ẩn chứa những yếu tố nguy hiểm, độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần. Về “thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi”, đối với các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu khác hoàn toàn với người lao động bình thường. Theo đó, những nhu cầu về cuộc sống, tình cảm, trách nhiệm với gia đình, người thân không phải khi nào cũng được đáp ứng. Những rủi ro trong chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, rèn luyện luôn thường trực, sĩ quan có thể bị suy giảm sức khỏe, bị thương, hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ bất cứ khi nào.

Thứ ba, tại Bộ luật Hình sự hình sự quy định nhóm các tội danh xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu (Chương XXV - Bộ luật Hình sự năm 2015), theo đó, nếu người phạm tội là sĩ quan thì bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn. Ví dụ, tại Điều 396 (Tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ), quy định: Người cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ dẫn đến người đó không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ được giao, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Phạm tội là chỉ huy hoặc sĩ quan thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Đối với pháp luật hình sự, các nhóm tội liên quan đến chức trách, nhiệm vụ thì quy định cụ thể chủ thể là tình tiết tăng nặng trong khung hình phạt cũng là sự cá biệt, thể hiện tầm quan trọng, vị trí, vai trò của sĩ quan trong đời sống xã hội nói chung và lĩnh vực quân sự - quốc phòng nói riêng. 

Ngoài ra, tính đặc thù của quân đội còn có những chi phối, ảnh hưởng khác đến đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe của sĩ quan. Đó là sự ổn định về vị trí làm việc (sự điều động, di chuyển); quy định về độ tuổi và trần quân hàm (so với các đối tượng khác phục vụ trong lực lượng vũ trang là quân nhân chuyên nghiệp và công an)… Hơn nữa trong trường hợp thôi phục vụ tại ngũ, nếu đủ tiêu chuẩn và chưa hết hạn tuổi phục vụ của sĩ quan dự bị thì sĩ quan chuyển sang ngạch sĩ quan dự bị và quan hệ lao động chưa thực sự chấm dứt về nghĩa vụ và trách nhiệm. Và khi sĩ quan rời quân ngũ sẽ ít hoặc không có cơ hội để hòa nhập vào thị trường lao động.

Vậy, quyền lợi của sĩ quan thực sự đã tương xứng với nghĩa vụ và trách nhiệm, tính đặc thù của quân đội?

Với điều kiện đặc biệt về môi trường làm việc, thời giờ làm việc, chuyên môn quân sự, sĩ quan không thể có cơ hội làm thêm giờ hoặc tạo thêm thu nhập. Trong khi đó chế độ tiền lương của sĩ quan theo quy định của Chính phủ và được quy định chung cùng các chủ thể người lao động khác trong lực lượng vũ trang là công an nhân dân (Bảng 6 - Bảng lương cấp bậc quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang). Chế độ phụ cấp thâm niên nghề cũng không còn là quy định riêng cho lực lượng vũ trang nói chung và sĩ quan nói riêng. Tương tự, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của sĩ quan cũng được thực hiện như đối với công an nhân dân và người làm tổ chức cơ yếu (Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 10/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và  người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân  nhân…). Trong đó có những quy định không thể thực thi trong thực tế và cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đặc thù quân đội, như chế độ nghỉ thai sản cho lao động nam khi vợ sinh con; trong thời gian nghỉ phép bị tai nạn rủi ro sẽ không được hưởng chế độ tai nạn lao động… Ngoài ra, chính sách bảo đảm nhà ở cho sĩ quan theo quy định của pháp luật cũng chưa khả thi trong thực tế.

Để xây dựng đội ngũ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, làm nòng cốt xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, việc củng cố và hoàn thiện địa vị pháp lý với sự cân bằng tương đối về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi bảo đảm những yếu tố đặc thù là rất cần thiết. Nghị quyết số 27-NQ/TƯ về cải cách chính sách tiền lương và Nghị quyết số 28-NQ/TƯ Khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, sẽ là cơ sở, tiền đề cho việc hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho sĩ quan trong việc thực thi nghĩa vụ thiêng liêng và trách nhiệm lớn lao đối với Tổ quốc và nhân dân.

LÊ THỊ THU HOÀI