Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần thẳng thắn chỉ rõ: Thể chế chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Nhận diện rõ vấn đề này, thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết với tư duy đổi mới, đột phá nhằm tháo gỡ rào cản từ thể chế. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, để những chủ trương, quan điểm trong từng nghị quyết đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, lại đang vướng phải một điểm nghẽn khác, thậm chí còn khó tháo gỡ hơn, đó là: Năng lực tổ chức thực thi nghị quyết.
Từ “hệ điều hành” lỗi thời đến cuộc cách mạng về thể chế
Đại hội XIV của Đảng xác định nhiều mục tiêu lớn và đầy thách thức: Đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500USD/năm.
Để đạt được các mục tiêu đầy tính bứt phá này là điều không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới đang có những biến động khó lường. Do đó, cần phải có những nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Công tác tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, cách làm hay, song vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”. Đây là một hạn chế kéo dài nhiều năm, khiến không ít mục tiêu lớn trong từng nghị quyết của Đảng các nhiệm kỳ trước đây không đạt được kỳ vọng. Nghị quyết Đại hội Đảng XIV xác định 3 đột phá chiến lược là đòn bẩy quyết định cho cả giai đoạn 2026-2030; trong đó, “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực” được xác định ở vị trí đầu tiên.
 |
|
Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN
|
Phấn khởi trước những chủ trương đúng đắn và những mục tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra, tuy nhiên, PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Thực thi là "thước đo" giá trị của nghị quyết. Một nghị quyết dù hay đến đâu, một đạo luật dù tiến bộ thế nào, nếu không đi vào cuộc sống thì vẫn chỉ nằm trên giấy. Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ thể hiện ở việc ban hành các quyết sách đúng đắn, mà quan trọng hơn là ở khả năng biến các quyết sách đó thành kết quả thực tế: Tăng trưởng kinh tế, sự hài lòng của người dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Nếu khâu thực thi yếu, sẽ dẫn đến tình trạng "trên nóng dưới lạnh", làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào các chủ trương của Đảng. Do đó, thực thi chính là bài kiểm tra thực tế nhất đối với uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng.
Để thúc đẩy phát triển đất nước, nâng cao năng lực bộ máy, chỉ trong hơn một năm vừa qua, Đảng ta đã lãnh đạo thực hiện rất nhiều công việc. Cùng với việc ra một loạt nghị quyết đột phá, tư duy cởi mở như: Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 59-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/TW; Nghị quyết số 68-NQ/TW; Nghị quyết số 71-NQ/TW; Nghị quyết số 72-NQ/TW..., Đảng ta đã lãnh đạo thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy để loại bỏ bớt các rào cản, tối ưu hóa nguồn lực. Tinh gọn bộ máy được xác định là phương thức quản trị xã hội mới.
Để thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, đưa ngay vào cuộc sống, thời gian qua, Quốc hội đã làm việc với tinh thần hết sức khẩn trương. Tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã xem xét, thông qua tới 51 luật, 8 nghị quyết quy phạm pháp luật. Đây là con số luật, nghị quyết được xem xét, thông qua lớn nhất từ trước đến nay tại một kỳ họp Quốc hội. Điểm đáng chú ý nhất không chỉ là số lượng, mà là tư duy lập pháp mới: “Một luật sửa nhiều luật”. Với việc sửa đổi trực tiếp nhiều luật liên quan đến đầu tư, ngân sách, đất đai... cho thấy một cuộc đại điều chỉnh của hệ điều hành quốc gia, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm” và chuyển mạnh sang tư duy “kiến tạo phát triển”.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Tư duy đột phá đã thay đổi rất căn bản. Không chỉ làm luật, mà phải làm cho luật sống; không chỉ ban hành chính sách, mà phải biến chính sách thành tác động thật trong đời sống. Và vì thế, đột phá thể chế không thể chỉ đo bằng số lượng văn bản, mà phải đo bằng năng lực tháo gỡ điểm nghẽn, bằng sự thông suốt của môi trường đầu tư-kinh doanh, bằng sự giảm thực chất của chi phí tuân thủ, bằng niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với bộ máy công quyền. Có thể thấy rằng, thứ khác biệt không phải là tầm nhìn, mà là năng lực chuyển tầm nhìn thành hành động.
Năng lực thực thi - thước đo năng lực Đảng cầm quyền
Bức tranh thực tế đang có sự phân hóa rõ nét. Tại một số tỉnh, thành phố, ngay sau khi các nghị quyết, các luật mới được thông qua, không khí làm việc thay đổi hẳn. Các dự án tồn đọng nhiều năm được khơi thông, thủ tục hành chính được cắt giảm tối đa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Những con số về tăng trưởng và thu hút đầu tư tại các địa phương này là minh chứng sống động cho việc khi thể chế được cởi trói, năng lượng xã hội sẽ bùng nổ.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, vẫn còn tình trạng “chờ hướng dẫn”, “nghe ngóng”. Điều này cho thấy, điểm nghẽn thực thi vẫn là thứ không dễ giải quyết. Vấn đề đặt ra là khả năng phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương. Sự tắc nghẽn thường nằm ở các "mối nối", nơi các cơ quan đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra những chỉ đạo rất sát đúng. Trong 5 điểm then chốt có ý nghĩa quyết định để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, ngay ở điểm then chốt thứ hai, Tổng Bí thư nhấn mạnh rõ về yêu cầu phải quyết liệt cải cách phương thức tổ chức thực hiện và kỷ luật thực thi. Kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn hệ thống chính trị, chấm dứt tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết.
Điều rõ ràng là, lãnh đạo các cấp phải gương mẫu, tiên phong trong đổi mới tư duy và hành động; dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia. Đây chính là mệnh lệnh hành động. Trong kỷ nguyên mới, không có chỗ cho những “mắt xích” yếu làm chậm bước tiến của cả dân tộc. Đất nước và nhân dân không chỉ cần những cán bộ “đúng quy trình”, mà cần những cán bộ có năng lực tổ chức thực hiện hiệu quả.
Nếu xem các nghị quyết và luật mới ban hành thời gian qua là "bản thiết kế" cho một tòa nhà vĩ đại thì đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là những "kỹ sư và thợ xây". Tòa nhà có vững chãi, có đẹp đẽ hay không hoàn toàn phụ thuộc vào đôi bàn tay, khối óc của những kỹ sư và những người thợ này. Trận địa bây giờ không còn là bàn nghị sự, mà là ở các công trường, trong từng nhà máy, trên mỗi thửa ruộng và ở mỗi quyết định, hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng: Trong lý luận chính trị, phương thức lãnh đạo được hiểu là tổng thể các cách thức, biện pháp, quy trình mà Đảng sử dụng để tác động, định hướng, tổ chức hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện đường lối, mục tiêu đã đề ra. Đối với một đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo không chỉ phản ánh trình độ lý luận mà còn thể hiện năng lực tổ chức, khả năng biến chủ trương thành hiện thực.
Bởi vậy, năng lực thực thi nghị quyết không chỉ là kỹ thuật mà là biểu hiện trực tiếp của năng lực cầm quyền. Điểm nghẽn không phải ở chủ trương mà ở năng lực tổ chức thực hiện.
(còn nữa)