Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam

Kể từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng (ngày 1-9-1858), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đến những thập niên đầu thế kỷ 20, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã liên tiếp nổi dậy chống ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, nhưng tất cả đều thất bại vì thiếu một đường lối đúng đắn, không có phương pháp đấu tranh thích hợp, thực chất là thiếu một giai cấp tiên tiến lãnh đạo cách mạng.

leftcenterrightdel
Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa

Trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh xuất hiện. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”. Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn. Người đã truyền bá lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, từng bước chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức thành một đảng cách mạng chân chính. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Trong 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế quốc tế ngày càng cao trong khu vực và trên thế giới.

Lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là cả “một pho lịch sử bằng vàng”. Lịch sử đó đã tôi luyện cho Đảng ta có được truyền thống quý báu, đó là: Đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; độc lập, tự chủ và sáng tạo; đoàn kết, thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, với dân tộc; luôn nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!”; “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

---------------

PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội

Suốt 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã tập hợp, giác ngộ, đoàn kết giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, tiến hành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc giành độc lập, giành chính quyền, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Những thắng lợi của cách mạng, dù quy mô, ảnh hưởng khác nhau, đều không tách rời sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Lịch sử lãnh đạo, đấu tranh của Đảng thật sự là cả một “pho lịch sử bằng vàng” với những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

leftcenterrightdel
PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc

Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ theo Nghị quyết Trung ương 7, khóa XII. Chú trọng sàng lọc đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng, nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên mới. Cùng với đó, coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Những nhiệm vụ quan trọng đó nhằm làm cho Đảng thật sự TSVM, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ 20. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay.

Tiến tới Đại hội XIII của Đảng, tổng kết 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm qua, Đảng tiếp tục làm rõ nhận thức lý luận và con đường đi lên CNXH, phát triển sáng tạo đường lối và chiến lược phát triển đất nước với tầm nhìn tới năm 2030 và 2045, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường XHCN.

---------------

Đồng chí Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương: Coi trọng xây dựng văn hóa trong Đảng

Xây dựng văn hóa trong Đảng, theo nghĩa rộng là xây dựng và nâng cao văn hóa lãnh đạo của Đảng với các tố chất văn hóa của lãnh đạo. Theo nghĩa hẹp, đó là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ văn hóa, làm việc có văn hóa và sống có văn hóa, cụ thể là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong các tổ chức đảng, Nhà nước.

leftcenterrightdel
Đồng chí Hà Đăng.

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh mục tiêu: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Do đó, cần chú trọng đúc kết, xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân.

Về xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế, cần chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể, coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Thường xuyên xây dựng văn hóa trong kinh tế, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân với ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh vì sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học-nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo. Về quản lý nhà nước, cần đẩy nhanh hơn nữa việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa...

---------------

PGS, TS Lý Việt Quang, Phó viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Tính đúng đắn của con đường cách mạng vô sản

Với truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc, từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam cho đến cuối thế kỷ 19, các cuộc đấu tranh yêu nước diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nơi. Nhưng các cuộc đấu tranh này đều thất bại, do ngọn cờ phong kiến không còn đủ khả năng huy động và tổ chức người dân chống giặc ngoại xâm như trước nữa. Đầu thế kỷ 20, lịch sử dân tộc Việt Nam đứng trước sự lựa chọn con đường cứu nước mới theo ngọn cờ tư sản, mà những đại diện tiêu biểu là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Song, phong trào cứu nước của hai cụ cũng không thành công.

leftcenterrightdel
PGS, TS Lý Việt Quang

Sau thất bại của hai cụ Phan, con đường cứu nước theo ngọn cờ dân chủ tư sản còn tiếp tục được lịch sử dân tộc khảo nghiệm thông qua vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng. Tuy nhiên, do thiếu một đường lối rõ ràng, nhất quán và không được tổ chức một cách chặt chẽ, nội bộ thiếu thống nhất và lại bồng bột, manh động khi bị thực dân Pháp khủng bố, nên Việt Nam Quốc dân Đảng nhanh chóng bị tan rã...

Chính trong bối cảnh bế tắc như vậy của sự nghiệp giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã “xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử”. Bằng sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, Người quyết định không đi theo cách của các nhà yêu nước theo tư tưởng phong kiến, tư sản, mà chọn cho mình một con đường riêng. Trên con đường tìm đường cứu nước, tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đã gặp và đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn theo ngọn cờ cách mạng vô sản. Từ khi đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức được giá trị khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

---------------

GS, TS Vũ Văn Hiền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương: Niềm tin yêu của tình dân - nghĩa Đảng

90 năm qua là giai đoạn đặc biệt của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, là giai đoạn mà đất nước phải chấp nhận và vượt qua những thách thức to lớn, có lúc hiểm nghèo. Nhưng mỗi lần vượt qua thử thách là mỗi lần dân tộc Việt Nam tự vươn lên, tạo dựng những mốc son lịch sử đánh dấu những thắng lợi vẻ vang. Những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua là minh chứng hùng hồn về sức mạnh kỳ diệu của dân tộc ta. Sức mạnh ấy được kết tinh bởi sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, tự cường và tinh thần chủ động, sáng tạo của nhân dân ta. Điều đó càng khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu khách quan, là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thành công của cách mạng.

leftcenterrightdel
GS, TS Vũ Văn Hiền

Đảng ta là cội nguồn của sức mạnh dân tộc và Đảng đã kết hợp đúng đắn Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống quý báu của dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, biết quý trọng và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đưa đất nước vươn lên.

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam có nhiều thời kỳ phát triển rực rỡ, nhưng chưa bao giờ “phong độ” của đất nước, vị thế của dân tộc lại được khẳng định như bây giờ. Cội nguồn của sự kỳ diệu đó là tinh thần làm chủ và ý thức quật cường của nhân dân ta với sự lãnh đạo của Đảng. 90 năm có Đảng là chặng đường vinh quang đầy ắp niềm tin yêu của tình dân-nghĩa Đảng. Toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nước ta do Đảng khởi xướng, luôn đi tới thắng lợi, bởi có nhân dân tham gia, nhân dân đồng tình hưởng ứng. Chất keo gắn bó nhân dân với Đảng ngày càng bền vững, trở thành xung lực của cách mạng, thể hiện phẩm chất nhân văn, phẩm chất trí tuệ của Đảng và sự cao quý vô cùng của lòng dân. Lý tưởng cao đẹp và mục tiêu phấn đấu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là hạnh phúc muôn đời của dân tộc ta, nhân dân ta.

---------------

GS, TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Để Đảng ta mãi xứng đáng là đạo đức, là văn minh

Tự hào về Đảng là đạo đức, là văn minh, Đảng ta hiểu rõ hơn ai hết tầm quan trọng của sức mạnh đoàn kết, nhất trí trong Đảng; của mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị đối với sự tồn vong của chế độ và sinh mệnh Đảng ta. Cho nên, hơn ai hết và hơn lúc nào hết, Đảng và nhân dân không chỉ thấy rõ sự chứng thực khách quan của lịch sử về những điều vẻ vang trong lịch sử Đảng 90 năm mà còn thấy rõ những cảnh báo nghiêm khắc, những đòi hỏi nghiêm túc của chính lịch sử trước thực trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Không đủ sức phòng tránh và quyết tâm đẩy lùi tình trạng suy thoái nêu trên, hiểm họa và hậu quả sẽ khôn lường.

leftcenterrightdel
GS, TS Hoàng Chí Bảo

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật-một bài học lớn mà Đảng ta đã nêu lên từ Đại hội VI, Đảng ta thấy rõ tình hình và nguy cơ, đang ra sức chỉnh đốn Đảng, gắn chặt quyết tâm với hành động để làm cho Đảng thật trong sạch, thật vững mạnh. Chưa bao giờ Đảng ta phải áp dụng những hình thức kỷ luật mạnh mẽ như lúc này, nhất là đối với các cán bộ cấp cao, chức vụ cao, quyền lực lớn, nhưng đã phạm khuyết điểm sai lầm nghiêm trọng làm tổn hại uy tín, thanh danh của Đảng, làm tổn thương đến tình cảm, niềm tin của dân với Đảng. Một Đảng là đạo đức, là văn minh sẽ tỏ rõ lòng trung thực, dũng cảm của mình để trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể họ là ai, ở địa vị, cương vị nào, theo di huấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là hành động cao cả, cần thiết để bảo vệ dân, bảo vệ cái thiện, diệt trừ cái ác, cái xấu, phản dân, hại nước. Đó cũng là điều cần thiết để giữ vững niềm tin của dân với Đảng, để Đảng ta mãi xứng đáng là đạo đức, là văn minh.

---------------

Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, Chủ tịch Hội truyền thống Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào: Tăng cường đoàn kết quốc tế - chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế là định hướng chiến lược quan trọng cho đường lối, chính sách đối ngoại nói riêng, đường lối cách mạng nói chung.

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là tranh thủ nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp, vì quốc gia, dân tộc, vì nền hòa bình của khu vực và trên thế giới.

Ngay sau khi thành lập (ngày 3-2-1930), Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những giải pháp lãnh đạo dân tộc Lào đấu tranh thoát khỏi ách nô lệ, đưa đất nước Lào đến thịnh vượng. Tháng 10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, xác định nguyên tắc, phương hướng, đường lối chính trị và những nhiệm vụ cơ bản của 3 nước Đông Dương; đồng thời đề ra chủ trương, giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ đảng tăng cường quan hệ đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Đặc biệt, sau khi giành chính quyền (tháng 10-1945), Chính phủ hai nước Việt Nam-Lào đã ký hiệp ước tương trợ Lào-Việt Nam và hiệp ước về tổ chức liên quân Lào-Việt Nam, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho hợp tác và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam-Lào.

Thực tế cho thấy, những thành công của đối ngoại Việt Nam những năm gần đây, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới đã chứng minh rõ ràng và đầy đủ nhất về tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo đất nước hội nhập quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã xác lập mối quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với gần 30 quốc gia, trong đó có tất cả các nước lớn và 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, là đối tác toàn diện với tất cả các nước trong Cộng đồng ASEAN...

Đoàn kết quốc tế là một truyền thống quý báu của Đảng và dân tộc ta. Truyền thống đó đã và đang được phát huy trong giai đoạn hiện nay, tạo thế và lực để nước ta ngày càng phát triển; uy tín, vị thế của Đảng ngày càng được khẳng định và nâng cao trên trường quốc tế.

---------------

TS Nguyễn Bình, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Sức sáng tạo lý luận lớn lao của Đảng

Trong 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lập nên nhiều thành tựu quan trọng về lý luận, đưa tới những thắng lợi vẻ vang trong thực tiễn cách mạng.

leftcenterrightdel
TS Nguyễn Bình

Trước hết, đó là thành tựu về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa và phong kiến. Lý luận cách mạng giải phóng dân tộc bao hàm một số nội dung chính: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, cách mạng Việt Nam từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến thẳng lên CNXH, với tuyên ngôn nổi tiếng "chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ". Với lý luận đúng đắn về con đường cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Hai là, thành tựu lý luận về chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng gắn liền với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp lần thứ hai, Đảng đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính. Qua hai cuộc kháng chiến, lý luận về chiến tranh nhân dân dần được bổ sung và phát triển, bao gồm một số luận điểm chính như vũ trang toàn dân, xây dựng LLVT nhân dân làm nòng cốt, tiến hành đấu tranh toàn diện trên tất cả các mặt; giành thắng lợi từng bước... thấu suốt quan điểm bạo lực cách mạng, coi tư tưởng tiến công là quy luật giành chiến thắng.

Ba là, lý luận về cách mạng XHCN trong quá trình đổi mới đất nước, thể hiện qua các Cương lĩnh của Đảng năm 1991, năm 2001 và năm 2011. Qua các cương lĩnh, lý luận về mô hình CNXH ở Việt Nam ngày càng rõ nét. Đảng đã xác định rõ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội phải trải qua một thời kỳ quá độ với những chặng đường, bước đi phù hợp, lâu dài.

Qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, lý luận về con đường tiến lên CNXH ở Việt Nam đã từng bước được xây dựng, bổ sung, phát triển. Đó là những thành quả minh chứng cho sức sáng tạo lớn lao của Đảng về mặt lý luận trong xây dựng mô hình CNXH ở Việt Nam.

---------------

Đại tá Nguyễn Văn Bảy, Phó tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân: Coi trọng xây dựng, hoàn thiện chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo

Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta có chính sách về tôn giáo phù hợp để tập hợp đồng bào có đạo xây dựng, phát triển đất nước. Điểm nổi bật của hệ thống chính sách đó là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (TNTG); đồng thời, luôn nhận thức và đặt vai trò của tôn giáo ở vị trí thích hợp theo một lộ trình, từ: Nhìn nhận giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo đến giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo, tiếp đến là nhìn nhận tôn giáo như nguồn lực trong quá trình phát triển đất nước.

leftcenterrightdel
Đại tá Nguyễn Văn Bảy

Quan điểm trên được thể hiện rõ nét từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986) đến nay. Đổi mới công tác tôn giáo được đánh dấu bằng việc Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ ban hành các nghị quyết, chỉ thị, pháp lệnh, luật, nghị định đồng bộ để việc thực hành tự do TNTG của người dân ngày càng được thuận lợi hơn. Đặc biệt, việc Nhà nước ban hành Luật TNTG đã khẳng định: Việt Nam tích cực hội nhập quốc tế, hoàn thiện pháp luật về TNTG, cụ thể hóa chủ trương nhất quán về quyền tự do TNTG. Luật này không chỉ quy định chung như Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền tự do TNTG, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” mà còn quy định chi tiết, rõ hơn về quyền tự do TNTG của người nước ngoài cư trú hợp pháp ở Việt Nam. Như vậy, quyền tự do TNTG không chỉ là quyền công dân mà còn là quyền của mọi người, không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Qua đó cho thấy, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do TNTG; là minh chứng rõ ràng, phủ nhận mọi luận điệu của các thế lực xấu cố tình xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do TNTG.

---------------

PGS, TS Dương Trung Ý, Giám đốc Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ

Quán triệt, bổ sung, phát triển tinh thần Đại hội VI của Đảng về công tác xây dựng Đảng, trong đó có xây dựng Đảng về tổ chức, các đại hội và hội nghị Trung ương thời kỳ đổi mới của Đảng đã đề ra hệ thống quan điểm, nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức một cách cụ thể, toàn diện hơn. Theo đó, công tác xây dựng Đảng về tổ chức của Đảng thời kỳ đổi mới góp phần quyết định nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đem lại những thắng lợi và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng nước ta.

leftcenterrightdel
PGS, TS Dương Trung Ý

Từ thực tiễn xây dựng Đảng về tổ chức qua gần 35 năm đổi mới, có thể rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu. Trước tiên, phải kiên định những vấn đề về nguyên tắc trong đổi mới công tác tổ chức, cán bộ; phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chiến lược của cách mạng để đổi mới, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp. Kiện toàn tổ chức bộ máy, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác và lề lối làm việc giữa các thành viên trong hệ thống, trong từng tổ chức.

Công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ nói riêng là trách nhiệm trước hết của cấp ủy các cấp, trong đó có trách nhiệm rất quan trọng của người đứng đầu. Mọi kết quả, thành tựu, hạn chế của công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ luôn gắn với nhận thức, trách nhiệm, tinh thần quyết tâm, năng lực lãnh đạo triển khai công tác của cấp ủy các cấp. Do đó, ở mọi giai đoạn, thời kỳ, việc đề cao và phát huy vai trò, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, nhất là người đứng đầu luôn là vấn đề cốt yếu trong xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ.

---------------

PGS, TS Trần Thị Thu Hương, nguyên Phó viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Tầm cao trí tuệ của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trở thành bản anh hùng ca bất hủ viết tiếp những trang sử vẻ vang trong truyền thống oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc. Một trong những nhân tố thể hiện tầm cao trí tuệ của Đảng, làm nên chiến thắng vĩ đại ấy là sự chủ động, sáng tạo trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến.

leftcenterrightdel
PGS, TS Trần Thị Thu Hương

Trước hết, đó là việc nhận định, đánh giá đúng kẻ thù của dân tộc từ rất sớm. Ngay khi Hội nghị Geneva đang bàn về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 (khóa II), ngày 15-7-1954 và chỉ rõ: "Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ". Trong bối cảnh đế quốc Mỹ âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, đây là một nhận định hết sức sáng suốt của Đảng. Nhận định ấy chi phối quá trình xác định nhiệm vụ và phương pháp đấu tranh tiếp theo của dân tộc. Việc xác định sớm và chính xác kẻ thù là yếu tố rất quan trọng để tạo nên sự thống nhất về nhận thức, hành động trong toàn Đảng, toàn dân và chủ động chuẩn bị cả tinh thần và lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Một sự kiện điển hình về tính chủ động, sáng tạo của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ là trận “Điện Biên Phủ trên không" năm 1972. Đảng đã dự đoán đúng tình hình, khả năng diễn ra từ mưu đồ của Mỹ. Ngay từ đầu năm 1968, khi đến thăm Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt... Ở Việt Nam Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Quán triệt tinh thần ấy, từ tháng 2-1968, Quân ủy Trung ương đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân xây dựng kế hoạch tác chiến và đến đầu tháng 9-1972, kế hoạch đánh B-52 đã căn bản được hoàn thành.

Luôn luôn chủ động trong mọi tình huống, đặc biệt trước kẻ thù ngoại xâm mạnh hơn cả về quân sự và kinh tế, trong bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp, là một trong những nhân tố hết sức quan trọng đưa dân tộc Việt Nam vượt qua được mọi thử thách, viết nên bản hùng ca trọn vẹn vào mùa xuân 1975.

---------------

Đại tá Hoàng Quốc Quang, Chính ủy Nhà máy Z131, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng: Kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất quốc phòng với sản xuất kinh tế

Những năm qua, nhà máy luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng (QP) do cấp trên giao; sản xuất, kinh doanh hiệu quả; mức tăng trưởng hằng năm từ 8% đến 10%; đời sống cán bộ, công nhân viên (CB, CNV) không ngừng được cải thiện.

leftcenterrightdel
Đại tá Hoàng Quốc Quang

Để có kết quả đó, thời gian qua, Đảng ủy, Ban giám đốc nhà máy đã quán triệt sâu sắc Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng (CNQP) đến năm 2020 và những năm tiếp theo; Nghị quyết 520 của Quân ủy Trung ương; cụ thể hóa trong các nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Tổng cục CNQP; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ CB, CNV có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là khả năng tiếp cận với khoa học-công nghệ (KHCN), làm chủ ứng dụng KHCN tiên tiến, hiện đại.

Nhà máy huy động mọi nguồn lực đầu tư, cải tạo, nâng cấp hạ tầng kinh tế kỹ thuật, bổ sung các trang thiết bị phục vụ sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất QP và sản xuất kinh tế; đẩy mạnh nghiên cứu phát triển ứng dụng tiến bộ KHCN, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới...

Trong triển khai thực hiện nhiệm vụ hằng năm, nhà máy luôn xác định sản xuất QP là nhiệm vụ chính trị trọng tâm và tập trung mọi nguồn lực để thực hiện. Do đó các sản phẩm QP do nhà máy sản xuất đều có chất lượng tốt, độ tin cậy cao, đồng thời nghiên cứu phát triển thêm một số sản phẩm vũ khí mới, tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quân đội.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Quân ủy Trung ương: “Khai thác mọi khả năng, phát huy nội lực, đưa hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với QP đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả ngày càng cao, gắn chặt với nhiệm vụ quân sự, QP, bảo vệ tài nguyên, môi trường”, nhà máy đã phát huy năng lực trình độ, tay nghề đội ngũ CB, CNV, khai thác năng lực thiết bị trên dây chuyền sản xuất QP để phát triển sản xuất kinh tế; lựa chọn các sản phẩm phù hợp với năng lực thiết bị và trang bị công nghệ hiện có. Do đó các sản phẩm kinh tế của nhà máy đáp ứng yêu cầu của thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, ổn định đời sống cho CB, CNV.

---------------

PGS, TS Phạm Đức Kiên, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Lựa chọn của Đảng là đúng đắn, sáng tạo

Qua gần 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, đất nước ta, dân tộc ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả lĩnh vực. Điều đó khẳng định, quá trình chấn hưng đất nước theo con đường XHCN và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo.

leftcenterrightdel
PGS, TS Phạm Đức Kiên

Sau chặng đường vượt qua muôn vàng thử thách và khó khăn, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi mặt, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, đã đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển mới về chất, phù hợp với xu thế của thời đại và ý nguyện của nhân dân. Sự hưởng ứng đường lối đổi mới ngày càng sâu rộng và tự giác của nhân dân, khả năng tiếp cận và hội nhập một cách có hiệu quả của đất nước vào đời sống của cộng đồng quốc tế, cùng với những kết quả to lớn và toàn diện mà đổi mới mang lại là những bằng chứng hiển nhiên, thuyết phục về tính tất yếu lịch sử của quá trình đổi mới ở Việt Nam.

Khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đã chủ trương kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Xác định nhiệm vụ đổi mới, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Từ thành tựu đổi mới kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Đó chính là bài học thành công trong đổi mới chính trị ở Việt Nam, bảo đảm giữ vững sự ổn định chính trị trong mọi hoàn cảnh.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng đất nước, chúng ta khó tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là trong khâu tổ chức thực hiện. Đảng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm nhận khuyết điểm, thiếu sót, đã và đang tích cực sửa chữa, khắc phục, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên vì những mục tiêu đen tối, các thế lực thù địch đã và đang ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành quả mà công cuộc đổi mới mang lại hòng làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, dao động, đi đến mất niềm tin vào khả năng lãnh đạo của Đảng.

---------------

Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh, Trưởng ban Xây dựng Đảng, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Phát huy vai trò báo chí tuyên truyền về xây dựng Đảng

Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam quan niệm rằng, tờ báo Đảng chỉ thực sự có sức hấp dẫn thu hút bạn đọc khi cập nhật, phản ánh kịp thời, đúng đắn nhanh nhất những thông tin về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Những thông tin đó có tính định hướng chính trị và dư luận xã hội, tính giáo dục và tính chiến đấu, phản biện cao, dám đấu tranh bảo vệ cái đúng, phê phán kịp thời cái sai, đánh giá đúng mức các hiện tượng tiêu cực trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội. Nếu tờ báo chỉ ca ngợi một chiều, né tránh, ngại phê phán, phản biện hoặc chỉ nêu mặt trái thì tờ báo đó rất ít bạn đọc quan tâm và chắc chắn hiệu quả tuyên truyền về xây dựng Đảng sẽ không đạt yêu cầu.

leftcenterrightdel
Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh

Từ quan niệm trên, thời gian qua, báo tập trung nâng cao chất lượng tin, bài, nhất là tuyên truyền về xây dựng Đảng trên một số nội dung, một số chuyên mục, như: “Xây dựng Đảng-những việc cần làm ngay”, “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, “Cùng bàn luận”, “Gương sáng Đảng viên”... Báo tăng cường giao lưu trực tuyến về xây dựng Đảng vì thông qua hình thức này bạn đọc có thể tương tác online trực tiếp để trao đổi góp ý, thậm chí tranh luận những vấn đề còn chưa rõ nhằm hiểu hơn về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước làm cho Đảng gần dân và dân hiểu Đảng, đây thực sự là cầu nối giữa nhân dân với Đảng.

Với 7 ấn phẩm và 4 thứ tiếng (Việt, Anh, Trung, Pháp) được bố trí, sắp xếp ở các chuyên mục, có thể nói thời gian qua, báo đã thực hiện hiệu quả tuyên truyền về xây dựng Đảng; khẳng định được vị trí, vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng; góp phần tuyên truyền, phổ biến, bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

---------------

Đại tá, TS Nguyễn Viết Hiển, nguyên Phó tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân: Tính đúng đắn của con đường cách mạng Việt Nam

Thắng lợi của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,  đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đã giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên CNXH. Thắng lợi đó đã khẳng định một sự thật: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, chiến đấu vì độc lập tự do, vì CNXH, nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể chiến thắng bất cứ kẻ thù xâm lược nào.

leftcenterrightdel
Đại tá, TS Nguyễn Viết Hiển

Trong những thời điểm phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có sự khủng hoảng nghiêm trọng, Đảng ta đã thể hiện rõ sự kiên cường và sức sáng tạo to lớn. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đứng trước nhiều khó khăn, thử thách to lớn trong nước và thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường XHCN theo Cách mạng Tháng Mười. Đảng đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót; kiên trì về chiến lược, nhưng sáng tạo về phương pháp, biện pháp trong xây dựng CNXH. Gần 35 năm qua, trước nhiều khó khăn, thách thức to lớn, Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới giành được nhiều thắng lợi quan trọng, có ý nghĩa lịch sử; đất nước có những bước tiến mạnh mẽ trên con đường đi tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Những thắng lợi và thành tựu to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH trên đất nước ta suốt chín thập kỷ qua, đã góp phần khẳng định tầm vóc lớn lao, ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Đây cũng là minh chứng sinh động về tính đúng đắn của con đường cách mạng Việt Nam theo gương Cách mạng Tháng Mười, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn vào những năm đầu của thế kỷ 20.

Đại tá, TS Nguyễn Viết Hiển

---------------

Đại tá Ngô Đình Phiếm (Tạp chí Quốc phòng toàn dân): Kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội

Bản chất CTĐ, CTCT là hoạt động lãnh đạo của Đảng với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người và xét đến cùng là thiết thực xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, trước hết là vững mạnh về chính trị. Để góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu lực CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

leftcenterrightdel
Đại tá Ngô Đình Phiếm

Thực chất của “phi chính trị hóa” quân đội là nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, để chúng dễ bề thực hiện mưu đồ làm chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục để bộ đội thấy rõ sự nguy hiểm của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, kịp thời xử lý hiệu quả các tình huống phức tạp trong thực tiễn theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không để kẻ xấu lợi dụng. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm an ninh chính trị và an toàn tuyệt đối, nhất là đối với các cơ quan, đơn vị trọng yếu, cơ mật; phòng, chống địch cài cắm, móc nối, lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ, kích động. Các cơ quan nghiên cứu, báo chí, văn hóa nghệ thuật của quân đội tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.

---------------

TS Tống Đức Thảo, Phó tổng biên tập Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Kiểm soát quyền lực trong Đảng phải trở thành nguyên tắc

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay, vấn đề kiểm soát quyền lực (KSQL) trong Đảng và Nhà nước vừa là nội dung cơ bản, vừa có tính cấp thiết thời sự. Hình thành cơ chế KSQL hiệu quả, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy, của thể chế, công tác phòng, chống tham nhũng cũng chính là việc ngăn chặn sự tha hóa quyền lực và ngăn chặn lòng tham của con người trong việc sử dụng quyền lực.

leftcenterrightdel
TS Tống Đức Thảo

Trong thể chế chính trị nước ta hiện nay, KSQL trong nội bộ Đảng là việc làm quan trọng mang ý nghĩa quyết định. KSQL trong nội bộ Đảng trước hết là công tác cán bộ và thực hành dân chủ rộng rãi, thực chất trong Đảng. Để bảo đảm được vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền thì hơn lúc nào hết, Đảng phải lãnh đạo và cầm quyền theo pháp luật. Đảng càng tuân thủ luật pháp thì vai trò lãnh đạo của Đảng càng được củng cố vững chắc.

Đã đến lúc chúng ta cần thể chế hóa cụ thể vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cũng như mối quan hệ cơ bản giữa Đảng và Nhà nước, nhất là mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý. Xây dựng cơ chế chất vấn đối với các vị trí quan trọng của Đảng ở các cấp khác nhau trong các cuộc họp hay các kỳ đại hội; bỏ phiếu tín nhiệm thường kỳ đối với các cá nhân lãnh đạo. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, thường xuyên thăm dò, điều tra dư luận để biết được ý kiến của quần chúng, đảng viên đối với tổ chức đảng và cán bộ đảng viên và công bố công khai để mọi người cùng biết.

Thể chế hóa phương thức lãnh đạo của Đảng phải bảo đảm đề cao trách nhiệm của Đảng bằng pháp luật trước nhân dân. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, sự KSQL không thể hiệu quả nếu không thể quy được trách nhiệm. Chính vì vậy, để xây dựng cơ chế KSQL hiệu quả thì phải gắn liền với cơ chế xác định trách nhiệm; bao gồm cả trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý; qua đó khắc phục được tình trạng, khi có sự việc vi phạm xảy ra là đổ lỗi cho tập thể, tức là không có ai phải chịu trách nhiệm.

Quyền lực phải được kiểm soát trở thành nguyên tắc của một nền chính trị dân chủ, văn minh. Là chủ thể cầm quyền duy nhất ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự đặt mình vào sự kiểm soát chặt chẽ, kiểm soát từ bên trong, từ nội bộ, từ thực tiễn hoạt động và xác lập vị thế cầm quyền của Đảng.

---------------

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Văn Sự, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu

Trước đổi mới, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta được tiến hành trong điều kiện Liên Xô và hệ thống các nước XHCN vẫn tồn tại, thì đến năm 1989, CNXH ở một loạt nước Đông Âu sụp đổ và năm 1991 Liên Xô-thành trì của cách mạng thế giới cũng tan rã. Trước tình hình đó, các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, 7, 8 (khóa VI), Đại hội VII, Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) đã phân tích, chỉ rõ sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở các nước không phải do bản chất của CNXH gây ra mà chính là do những sai lầm chủ quan của các Đảng Cộng sản và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Đảng khẳng định: “Loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Vì vậy, đi lên CNXH là con đường tất yếu, là sự lựa chọn duy nhất của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta. Những kết luận đúng đắn, kịp thời của Đảng về CNXH chính là cơ sở để củng cố niềm tin, định hướng chính trị đúng đắn cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trước khúc quanh của lịch sử.

leftcenterrightdel
Đại tá, PGS, TS Nguyễn Văn Sự

Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), cùng với chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đại hội xác định cần xúc tiến việc xây dựng cương lĩnh hoàn chỉnh cho toàn bộ cuộc cách mạng XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Bằng việc đưa ra định nghĩa về xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng; Đảng trả lời được câu hỏi CNXH ở Việt Nam là gì; 7 phương hướng cơ bản chính là nhằm trả lời câu hỏi làm thế nào để xây dựng được CNXH. Đồng thời với việc thông qua Cương lĩnh, Đại hội VII của Đảng còn thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000.

Nếu Cương lĩnh là “ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên CNXH, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới", thì Chiến lược "là phương hướng hành động của nhân dân Việt Nam đến năm 2000 nhằm chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, làm giàu cho mình và cho đất nước". Việc soạn thảo và thông qua hai văn kiện quan trọng nêu trên là một thành công lớn, thể hiện sâu sắc bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng; mang lại niềm tin và hy vọng của mỗi người chúng ta về tương lai, tiền đồ phát triển của đất nước.

---------------

Thượng tá Nguyễn Đức Cương, Phó trưởng Ban Thanh niên Quân đội: Thanh niên Quân đội tự hào vững bước dưới cờ Đảng quang vinh

Ngày 8-2-1952, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên trong quân đội được thành lập tại Đại đội 29, Tiểu đoàn 183, Trung đoàn 246 (Đoàn Tân Trào)-đơn vị bảo vệ Trung ương Đảng, Bác Hồ và Bộ Tổng Tư lệnh. Ngày 22-12-1955, Tổng Quân ủy ra Quyết nghị 25/QN-TW về việc tổ chức Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam trong toàn quân. Đây là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử đối với công tác đoàn và phong trào thanh niên trong quân đội.

leftcenterrightdel
Thượng tá Nguyễn Đức Cương

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp toàn quân luôn quán triệt, thực hiện tốt các quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên, công tác vận động thanh niên và xây dựng tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua 68 năm xây dựng, chiến đấu, cống hiến và trưởng thành, tổ chức Đoàn trong quân đội được xây dựng thành hệ thống chặt chẽ, rộng khắp trong toàn quân; các thế hệ đoàn viên, thanh niên quân đội đã kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất của ông cha; luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; xung kích, đi đầu trong các phong trào của thanh niên cả nước.

Thời gian tới, sự nghiệp xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu rất cao đối với thanh niên quân đội. Thanh niên Quân đội tiếp tục xung kích, sáng tạo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, trong đó tập trung bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội để xây dựng và tổ chức các hoạt động của thanh niên đúng hướng, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cùng với đó, thanh niên quân đội phải là lực lượng xung kích, đi đầu trong Phong trào thi đua Quyết thắng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị, của quân đội. Công tác đoàn và phong trào thanh niên phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp và hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên. Nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp hoạt động với lực lượng thanh niên trên các địa bàn đóng quân; thực hiện tốt công tác đối ngoại quân sự và công tác dân vận, tập trung xây dựng cơ sở chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện tốt chức năng của “đội quân công tác”, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân và củng cố “thế trận lòng dân” ngày thêm vững chắc.

---------------

Đồng chí Lê Thị Lụa, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Việt Thành (Trấn Yên, Yên Bái): Khi ý Đảng hợp lòng dân

Việt Thành là xã vùng thấp của huyện Trấn Yên, có tổng diện tích đất tự nhiên 1.432ha. Toàn xã có 8 thôn với 870 hộ và 3.080 khẩu. Trước thời điểm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM), xã Việt Thành là địa phương còn gặp nhiều khó khăn, nhận thức của người dân còn hạn chế; toàn xã mới bê tông cứng hóa được hơn 2km đường giao thông, còn lại là đường đất lầy lội vào mùa mưa; cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng đồng bộ, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 12% vào năm 2011.

leftcenterrightdel
Đồng chí Lê Thị Lụa

Đảng ủy xác định chương trình xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nên chủ động, quyết tâm đổi mới cách làm, phát động phong trào xây dựng NTM đến mọi người dân với tinh thần: Chương trình NTM chỉ thực sự thành công, có ý nghĩa khi nó đi vào từng thôn xóm, từng hộ gia đình và phải bắt nguồn từ sự thay đổi trong tư duy của mỗi cán bộ và mỗi người dân, để mỗi người không còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước mà tự giác tham gia chương trình.

Để việc tổ chức triển khai thực hiện thành công, cấp ủy đảng xác định công tác cán bộ phải là khâu then chốt, phải sớm xây dựng được đội ngũ cán bộ có quyết tâm chính trị cao, nói đi đôi với làm, sâu sát, gắn bó với nhân dân. Đảng ủy xã mạnh dạn điều động, luân chuyển đảng viên có năng lực từ chi bộ này sang sinh hoạt chi bộ khác và giữ các chức vụ lãnh đạo ở những chi bộ có sức chiến đấu chưa cao, chi bộ dòng họ... Cách làm đó đã nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, tạo niềm tin trong nhân dân.

Nhờ có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhân dân đã tự nguyện hiến hơn 57.000m2 đất để xây dựng các công trình xã hội. Đến nay, các thôn đều xây dựng được nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng kinh phí 100% do nhân dân tự đóng góp; các tuyến đường cơ bản đã được bê tông cứng hóa; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,84%, không có hộ cận nghèo, thu nhập bình quân đầu người năm 2019 là 42 triệu, tăng 34 triệu so với năm 2011.

---------------

Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hồi, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân: Đảng lãnh đạo quân đội là nguyên tắc bất biến

Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Đây là nguyên tắc được V.I. Lênin đề ra ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công.

leftcenterrightdel
Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hồi

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ quan điểm “Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng, cũng như hành động của Hồ Chí Minh và Đảng ta về xây dựng LLVT cách mạng. Ngay từ đầu năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng xác định: “Tổ chức ra quân đội công nông”, mà quân đội ấy phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong suốt quá trình xây dựng, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn yêu cầu: “Xây dựng quân đội-một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng”.

Nhờ thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi giai đoạn cách mạng. Lịch sử hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam đã chứng tỏ nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội luôn được quán triệt và thực hiện nghiêm túc trong thực tế. Nhờ đó, Quân đội ta thực sự là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách; trong đó, vấn đề then chốt là tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 và Chỉ thị 87 về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; đẩy mạnh công tác giám sát, kiểm tra Đảng; kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo đảm mọi tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội luôn trong sạch, vững mạnh.

---------------

PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nhận diện thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng

 Trong điều kiện tình hình thế giới, trong nước có nhiều thay đổi với cơ hội và thách thức đan xen, thì việc tìm hiểu, xác định những thách thức, thậm chí có thể coi là nguy cơ mà Đảng ta phải đối mặt, chỉ ra những điều kiện bảo đảm và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng là điều rất quan trọng, cần thiết.

leftcenterrightdel
PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà

Thách thức thứ nhất, đó là sự phai nhạt lý tưởng, thờ ơ, không coi trọng việc học tập, trau dồi lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Thứ hai, sự suy thoái phẩm chất, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên-vấn đề đã được Hội nghị Trung ương 4, khóa XII chỉ rõ. Thứ ba, nội dung và hình thức sinh hoạt Đảng chậm được đổi mới khiến cho hoạt động sinh hoạt của tổ chức Đảng trở nên hình thức, không thực chất, kém hấp dẫn. Thứ tư, thời gian qua, trong nội bộ Đảng ít nhiều vẫn còn những biểu hiện chưa thống nhất nhận thức, chưa tạo được sự đồng thuận, gây nên sự phân tâm, suy nghĩ, lo lắng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt đông sinh hoạt Đảng chưa được thực hiện tốt, hiệu quả... Cùng với đó, niềm tin của nhân dân với Đảng có những biểu hiện giảm sút. Một số lượng không nhỏ đoàn viên, thanh niên bày tỏ công khai suy nghĩ không có ý định, không muốn phấn đấu để trở thành đảng viên. Thách thức không nhỏ nữa là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm hạ thấp, đi đến phủ định, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng

Để bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng cần không ngừng trau dồi, học tập, bồi dưỡng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần siết chặt hơn nữa kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhanh chóng và quyết liệt đổi mới về tổ chức, nền nếp sinh hoạt Đảng cho phù hợp với tình hình mới. Xây dựng mối đoàn kết thực sự, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo của Đảng; xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Cần có giải pháp, hành động kịp thời, hiệu quả để phòng, chống và làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

---------------

PGS, TS Phạm Văn Linh, Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương: Đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên giáo

Ngay từ khi mới thành lập, do nhận thức đúng tầm quan trọng đặc biệt của công tác tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm thành lập ngành tuyên giáo (1-8-1930). Đây không chỉ là công cụ quan trọng mà còn là bộ phận cấu thành trong hoạt động lãnh đạo của Đảng.

leftcenterrightdel
PGS, TS Phạm Văn Linh

Qua mỗi thời kỳ lịch sử, công tác tuyên giáo luôn xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hiện nay, tình hình quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc, tác động đến tình hình chính trị, kinh tế-xã hội ở nước ta. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ thông tin, mạng xã hội, internet đang tác động sâu sắc, toàn diện tới đời sống nhân loại, tạo ra nhiều thời cơ, thách thức cho mỗi quốc gia. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mang theo cả thời cơ và thách thức, trong đó trực tiếp là các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Các thế lực phản động không ngừng tìm mọi thủ đoạn để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta. Những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, điều hành đất nước, hiện tượng tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất gây bất bình xã hội, làm xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Trong giai đoạn cách mạng mới, đòi hỏi ngành tuyên giáo phải quyết tâm cao trong việc đổi mới nội dung, phương thức công tác. Đổi mới cần được dựa trên cơ sở khoa học, sự đúc kết kinh nghiệm thực tế, sự phát hiện, tìm tòi cái mới từ thực tiễn công tác tuyên giáo của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị. 

Ngành tuyên giáo cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và quy trình trong xây dựng, quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Thực hiện tốt chức năng định hướng nghiên cứu lý luận chính trị và đẩy mạnh hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền theo hướng nhanh nhạy, kịp thời, đúng đối tượng, thuyết phục; tích cực góp phần trực tiếp vào công tác xây dựng Đảng; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo có bản lĩnh chính trị, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.

---------------

Đồng chí Nguyễn Văn Phong, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội: Sáng tạo quán triệt, triển khai nghị quyết của Đảng

Thành ủy Hà Nội luôn xác định: Công tác quán triệt, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng. Do thành phố địa bàn rộng, dân số đông, có hơn 50 tổ chức cơ sở đảng, với hơn 441.000 đảng viên, trình độ nhận thức khá cao, nên yêu cầu, hình thức và thời gian học tập nghị quyết rất phong phú. Để phù hợp với tình hình thực tế, địa phương xác định thời gian tổ chức các lớp học một cách linh hoạt; việc trang bị tài liệu học tập nghị quyết bảo đảm đúng về chủng loại, đủ về số lượng. Công tác quản lý lớp học ngày càng được chú trọng, đảng viên vắng mặt đều yêu cầu học bổ sung.

leftcenterrightdel
Đồng chí Nguyễn Văn Phong

Về việc ban hành và triển khai thực hiện các nghị quyết chuyên đề của Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ Hà Nội chủ động đổi mới nội dung, hình thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng. Đội ngũ báo cáo viên giới thiệu nghị quyết với sự tham gia của các báo cáo viên Trung ương, thành phố và cơ sở đều nghiên cứu kỹ tài liệu, chuẩn bị đề cương chi tiết, phương pháp truyền đạt rõ ràng, kết hợp với nắm bắt tình hình địa phương, cơ sở để truyền đạt cho phù hợp và sinh động. Cùng với đó, Thành ủy Hà Nội chú trọng công tác tuyên truyền nghị quyết của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổ động trực quan... Trong thời gian triển khai học tập, quán triệt triển khai tuyên truyền các nội dung nghị quyết, các báo, đài, bản tin của thành phố xây dựng các chuyên trang, chuyên mục đưa tin thường xuyên; hằng tuần đưa tin, bài trên hệ thống truyền thanh địa phương.

Từ nghị quyết của Trung ương, Thành ủy Hà Nội chủ động, sáng tạo, linh hoạt ban hành và triển khai quyết liệt các nghị quyết chuyên đề ngay từ đầu nhiệm kỳ, có lộ trình, bước đi phù hợp; tập trung lựa chọn những vấn đề cấp thiết, nổi cộm được dư luận đặc biệt quan tâm, nhằm tạo chuyển biến tích cực, khởi sắc trong thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ chính trị từ thành phố đến cơ sở.

---------------

Đại tá Nguyễn Ngọc Phương, Phó cục trưởng Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị: Nắm bắt đòi hỏi thực tiễn của công tác tổ chức xây dựng Đảng

Công tác tổ chức xây dựng Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, một bộ phận công tác tổ chức của Đảng trong quân đội; một nội dung công tác cơ bản của công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội.

leftcenterrightdel
Đại tá Nguyễn Ngọc Phương

Trước tình hình thế giới, khu vực và trong nước bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh chiến lược "Diễn biến hòa bình", chống phá ta nhiều mặt, trong đó mục tiêu cơ bản là nhằm "phi chính hóa", "dân sự hóa" quân đội, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Vì vậy, công tác tổ chức xây dựng Đảng trong quân đội thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:

Tuyệt đối trung thành, kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng. Tiến hành công tác tổ chức xây dựng Đảng trong quân đội phải quán triệt và thực hiện thắng lợi đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, nhiệm vụ chính trị của quân đội và đơn vị; thể hiện bản chất giai cấp công nhân; tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ; thường xuyên chăm lo xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các yếu tố về chức năng, nhiệm vụ, quy mô, công cụ, phương tiện, hình thức, phương pháp hoạt động của tổ chức; kết hợp chặt chẽ công tác tổ chức, công tác cán bộ với công tác tư tưởng và công tác chính sách.

Giữ vững nguyên tắc công tác, đồng thời phải linh hoạt, sáng tạo, kiên trì bám sát cơ sở để nắm bắt được những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn trong tiến hành công tác tổ chức xây dựng Đảng, nhất là việc nghiên cứu, tham mưu đề xuất ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo.

Tiến hành công tác tổ chức xây dựng Đảng trong quân đội là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tình hình mới. Chính vì vậy, là cơ quan tham mưu chiến lược đầu ngành về công tác tổ chức xây dựng Đảng trong quân đội, đối với Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị phải tiếp tục phấn đấu xây dựng cơ quan vững mạnh toàn diện, phát huy truyền thống "Đoàn kết, kiên định, chủ động, sáng tạo", với tinh thần trách nhiệm và ý thức chính trị cao quyết tâm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ góp phần giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

---------------

Đồng chí Đỗ Quyết Thắng, Phó trưởng phòng Báo chí-Xuất bản, Ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh: Công tác tuyên giáo với nhiệm vụ xây dựng Đảng ở Đảng bộ TP Hồ Chí Minh

Những năm qua, công tác tuyên giáo của Thành ủy TP Hồ Chí Minh được triển khai thực hiện với tinh thần mới, huy động sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị; trong đó, đội ngũ cán bộ tuyên giáo luôn có vai trò nòng cốt. Theo đó, đội ngũ tuyên giáo các cấp luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, phát huy tính chủ động, linh hoạt, khắc phục tình trạng thông tin, tuyên truyền một chiều, tích cực lắng nghe những phản hồi từ dư luận...; từ đó nghiên cứu, sàng lọc, xử lý thông tin một cách khoa học, biện chứng để đưa thông tin khách quan, bổ ích đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

leftcenterrightdel
Đồng chí Đỗ Quyết Thắng

Nhiều giải pháp đã được thực hiện đồng bộ, gồm: Tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền bằng tài liệu, bằng tiếng nói tích cực của cá nhân có ảnh hưởng lớn trong xã hội, nhất là sử dụng hệ thống báo chí, truyền thông, các phương tiện thông tin đại chúng. Có những nhiệm vụ tuyên truyền lâu dài, thường xuyên, theo định kỳ; có những nhiệm vụ tuyên truyền dồn dập, mạnh mẽ, quyết liệt... Sau mỗi đợt tuyên truyền đều có sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ, đồng thời nhắc nhở, phê bình những nơi làm chưa tốt.

Thời gian tới, công tác tuyên giáo của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh nhất quán xác định mục đích đối với công tác tư tưởng là tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội trên cơ sở tuyên truyền, giáo dục về nền tảng tư tưởng, về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; định hướng nhân dân nhận thức đúng đắn về các vấn đề, sự kiện thời sự quan trọng, có ý nghĩa đối với lợi ích quốc gia, dân tộc và cuộc sống của người dân, khơi dậy tinh thần sáng tạo, hình thành văn hóa sáng tạo trong nhân dân.

---------------

Đại tá, PGS, TS Đinh Ngọc Hoa, Phó giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân: Không ngừng đổi mới, chỉnh đốn Đảng

Ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là mục tiêu chống phá hàng đầu của các thế lực thù địch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ Đảng, hòng làm giảm uy tín, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch dù có sử dụng “trăm phương nghìn kế” cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của toàn dân ta đồng lòng đi theo Đảng.

leftcenterrightdel
Đại tá, PGS, TS Đinh Ngọc Hoa.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại, có lúc do nóng vội, giáo điều, chủ quan, cũng có những lúc Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là, mỗi khi phạm phải sai lầm, khuyết điểm, Đảng không bảo thủ, bàng quan mà đều kiên quyết sửa chữa, thể hiện tinh thần cầu thị, trách nhiệm chính trị trước nhân dân, dân tộc. Một số phần tử cơ hội chính trị đã cố tình thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm đó, quy kết Đảng ta không đủ năng lực lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong điều kiện mới.

Thực tiễn gần 35 năm đổi mới của Việt Nam một lần nữa bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc cùng những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, phải luôn kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời, làm tốt công tác xây dựng Đảng. Đây là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc, là nhân tố bảo đảm cho công cuộc đổi mới thành công, đất nước phát triển theo đúng định hướng XHCN. Càng đổi mới, đi vào kinh tế thị trường, mở cửa, càng phải giữ vững, tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng.

Vấn đề cơ bản, quan trọng giai đoạn hiện nay là phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; không ngừng đổi mới, chỉnh đốn Đảng, để Đảng có luôn có đủ uy tín chính trị và khả năng hoàn thành nhiệm vụ do lịch sử giao phó. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Chú trọng liên hệ chặt chẽ với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng và bảo vệ Đảng...

---------------

GS, TS Mạch Quang Thắng, chuyên viên cao cấp, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Tự đổi mới để xứng đáng là Đảng cầm quyền

Quyền mà Đảng có được là từ sự ủy thác đầy tin tưởng của nhân dân và toàn dân tộc trao cho Đảng trách nhiệm đưa đất nước phát triển trên con đường độc lập dân tộc và CNXH. Đảng thực hiện sứ mệnh cao cả của mình là phục vụ sự phục hưng dân tộc, chứ không vì mục đích tự thân. Sự cầm quyền đó của Đảng là hoàn toàn chính đáng, là kết quả thực tế hiển nhiên khắc đúc từ bao hy sinh xương máu của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam yêu nước, chứ không phải cứ tự nhận mà được. 75 năm cầm quyền (1945-2020), Đảng ta đã luôn luôn tự đổi mới, làm tròn hai nhiệm vụ cơ bản nhất mà nhân dân, dân tộc giao phó.

leftcenterrightdel
GS, TS Mạch Quang Thắng

90 năm qua, sự lớn mạnh của Đảng gắn với quá trình Đảng luôn tự đổi mới. Điều này đã được thể hiện trong gần 35 năm đất nước đổi mới. Trong tầm nhìn đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng) và năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước), Đảng phải tiếp tục tự đổi mới mạnh mẽ hơn nữa mới có thể tiếp tục giữ vững và tăng cường vai trò cầm quyền. Sự cầm quyền của Đảng, từ việc Đảng biến cái có thể thành hiện thực, trở thành điều tất yếu cũng như việc Đảng phải thường xuyên tự đổi mới để luôn trong sạch, vững mạnh.

Trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng phải đề ra được đường lối phát triển đất nước đúng đắn. Nói đến hoạch định đường lối phát triển đất nước thực chất là nói đến xây dựng Đảng về mặt chính trị, là sự kết tinh cả bản lĩnh chính trị và tầm trí tuệ của Đảng. Đường lối này phải dựa chắc trên những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trung thành, trung thành hơn nữa; sáng tạo, sáng tạo hơn nữa phải trở thành phương châm trong tư duy và hành động của toàn Đảng. Đảng phải được tăng cường năng lực tổ chức thực tiễn, tức là phải chỉ đạo thực hiện thắng lợi cương lĩnh, nghị quyết của Đảng; biến những tư duy đổi mới thành kết quả thực tiễn. Cùng với đó, coi trọng hơn nữa mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân; chú trọng hơn nữa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng về đạo đức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh.

Thực hiện được những nội dung trên tức là Đảng đã thực thi thành công tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xứng đáng là Đảng cầm quyền.

---------------

Đồng chí Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn: Phát huy vai trò tổ chức Đoàn tham gia xây dựng Đảng

Đoàn Thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng. Chức năng lớn nhất của Đoàn là giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, bồi dưỡng giúp đỡ thanh niên tiên tiến trở thành đoàn viên, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú phấn đấu trở thành đảng viên. Vì vậy, Đoàn là tổ chức quần chúng gần Đảng nhất và xây dựng Đoàn là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.

leftcenterrightdel
Đồng chí Lê Quốc Phong

Thực tiễn khẳng định: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có vai trò rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn vững mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước, là quá trình xây dựng và chuẩn bị đội dự bị tin cậy, bổ sung lực lượng cho Đảng. 

Phát huy những kết quả đã đạt được và thực hiện mục tiêu xây dựng lớp thanh niên “vừa hồng, vừa chuyên”, có ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên lập thân, kiến quốc, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đồng thời, phát huy vai trò quan trọng của tổ chức Đoàn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp bộ đoàn, cán bộ đoàn, đảng viên trẻ, đoàn viên, thanh niên trong tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị; coi đây là trách nhiệm và quyền lợi chính trị của đoàn viên, thanh niên và tổ chức Đoàn, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cấp bộ đoàn. Bên cạnh đó, đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”; phát hiện, lựa chọn đoàn viên ưu tú để bồi dưỡng, tạo nguồn và nâng cao chất lượng giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp.

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần chủ động, sáng tạo, kiên trì tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách đối với thanh, thiếu nhi; giới thiệu cán bộ có chất lượng, đã trưởng thành để bổ sung cho cấp ủy đảng, chính quyền và tổ chức chính trị-xã hội các cấp. Cùng với đó, lựa chọn vấn đề cấp thiết, có tính thời sự trong thực hiện quy chế phản biện, giám sát xã hội của Đoàn đối với quá trình xây dựng và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề nóng của xã hội và các nội dung liên quan đến công tác thanh niên.

---------------

Thiếu tướng Nguyễn Văn Tháp, Phó chính ủy Học viện Chính trị: Kiên định nền tảng tư tưởng, mục tiêu và lý tưởng của Đảng

Kiên định nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng, kiên định mục tiêu và lý tưởng của Đảng, kiên định đường lối đổi mới là những nội dung cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, góp phần phòng, chống hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và bảo vệ, giữ vững NTTT của Đảng.

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Nguyễn Văn Tháp

NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Giữ vững NTTT luôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu có liên quan mật thiết đến sinh mệnh của Đảng và cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong tình hình mới.

Do đó, để giữ vững NTTT của Đảng, các cấp ủy đảng cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và nghị quyết Trung ương, nghị quyết các kỳ đại hội đảng về công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Cùng với đó, để giữ vững NTTT của Đảng, phải kiên định và giữ vững Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng để xây dựng, nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng; phải kiên quyết bảo vệ Đảng, phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở nước ta để góp phần tăng cường, củng cố vững chắc hơn NTTT của Đảng.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hơn bao giờ hết đang đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục giữ vững NTTT của Đảng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo vệ sự trường tồn của Đảng. Trong tình hình mới, để giữ vững NTTT của Đảng phải kiên trì, vận dụng, phát triển sáng tạo và bảo vệ vững chắc Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự kiên trì, vận dụng, phát triển sáng tạo và bảo vệ vững chắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là bảo vệ vững chắc NTTT của Đảng.

---------------

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Thanh Tú (Tạp chí Văn nghệ Quân đội): Những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, dân tộc ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại-mốc son chói lọi, đưa dân tộc Việt Nam từ nô lệ trở thành người làm chủ, nước ta từ một nước thuộc địa trở thành nước độc lập.

leftcenterrightdel
Đại tá, PGS, TS Nguyễn Thanh Tú

Như một lẽ tự nhiên, Đảng đã đổi đời cho dân tộc, cũng mở ra chân trời mới, khơi nguồn sáng tạo cho văn nghệ sĩ. Do vậy, viết về Đảng vừa là đạo lý, vừa là chân lý cũng là nguyên lý. Đó là đạo lý dân tộc "ăn quả nhớ người trồng cây"; là chân lý về sáng tạo: Nâng tầm giá trị văn hóa của dân tộc cũng là nâng tầm văn hóa sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân ta. Là nguyên lý mỹ học, hướng tới cái chân, thiện, mỹ. Ngày 25-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư "Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ", trong đó có câu: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

Có thể nói, văn nghệ là vấn đề tư tưởng. Để tác phẩm có tư tưởng, người viết phải chắc chắn, tươi mới, đúng đắn về tư tưởng. Do đó, nghệ sĩ phải yêu đến tận cùng sự thật và cái đẹp, kết hợp với sự nhạy cảm chính trị mới thấu hiểu sự thật để thấu cảm tình người và truyền cảm đến nhiều người. Mỗi nghệ sĩ là trí thức tiêu biểu, phải luôn ý thức là những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng, lấy cây bút và tờ giấy làm vũ khí sáng tạo những hình tượng trong sáng, lành mạnh phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, vì mục tiêu chân, thiện, mỹ để đấu tranh loại bỏ cái lỗi thời, phản động, tiêu cực, nhưng không tự mình “bẻ cong” ngòi bút, lương tâm.

Văn học-nghệ thuật là lĩnh vực của cái tôi, của cá tính, nên “chủ nghĩa cá nhân” rất có điều kiện nảy nở. Vì vậy, văn nghệ sĩ viết về lý tưởng, về chất Đảng cũng chính là cách chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa. Cây xanh văn nghệ sĩ hôm nay phải cắm 3 chùm rễ sâu vào 3 mảnh đất: Văn hóa dân tộc/nhân dân; văn hóa Đảng/cách mạng; văn hóa nhân loại/nhân văn và vươn cao cành lá lên bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để kết trái tác phẩm phục vụ nhân dân.

---------------

Thượng tá, TS Bùi Bạch Đằng, Phó chủ nhiệm Khoa Lịch sử Đảng, Trường Sĩ quan Chính trị: Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong kháng chiến chống Pháp

Kể từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được khẳng định.

leftcenterrightdel
Thượng tá, TS Bùi Bạch Đằng

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đứng trước nhiều khó khăn, được mô tả như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong nước, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở, nhân dân lao động đã làm chủ vận mệnh của đất nước. Tuy nhiên, với âm mưu thâm độc của kẻ thù, 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc với danh nghĩa quân đồng minh kéo vào miền Bắc nhằm lật đổ chính quyền cách mạng Việt Nam, nghiêm trọng hơn là quân Anh, Pháp đồng lõa với nhau nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. Trên cơ sở phân tích tình hình và âm mưu xâm lược của kẻ thù, Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chủ yếu của cách mạng Việt Nam.

Đảng đề ra đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”. Trên cơ sở đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định lực lượng kháng chiến là toàn dân, tất cả mọi người dân Việt Nam đều tham gia đánh giặc, trong đó LLVT 3 thứ quân làm nòng cốt. Toàn diện kháng chiến là kháng chiến cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao nhằm huy động mọi tiềm lực vật chất, tinh thần của đất nước, liên hiệp với mọi lực lượng cách mạng tiến bộ và hòa bình trên thế giới, kết hợp mọi hình thức đấu tranh để đánh bại kẻ thù. Bên cạnh phương châm toàn dân, toàn diện kháng chiến, trường kỳ và tự lực cánh sinh cũng là những yếu tố độc đáo, sáng tạo của Đảng trong xây dựng đường lối kháng chiến.

Đảng xác định tiến hành kháng chiến chủ yếu dựa vào sức mình là chính, dựa vào sức mạnh tổng hợp của đất nước, của dân tộc; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế khi có điều kiện. Đảng giữ liên lạc mật thiết với Đảng Cộng sản Pháp; hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Campuchia; tăng cường thiết lập quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô. Những chiến thắng quân sự ngày càng lớn của quân và dân Việt Nam đã buộc thực dân Pháp phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với mong muốn rút khỏi cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam.

---------------

TS Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trưởng khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Khu vực I, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Đại hội VI của Đảng - bước ngoặt đổi mới

Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) được tiến hành trong bối cảnh lịch sử đặc thù: “Đổi mới hay là chết” và phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã khởi nguồn cho những tư tưởng đổi mới mang ý nghĩa lịch sử. Đại hội thể hiện bước ngoặt trong đổi mới tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và có nhiều đóng góp trong bổ sung, phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin.

leftcenterrightdel
TS Nguyễn Thị Thanh Huyền

Xuất phát từ thực tiễn, Đại hội VI xác định rõ mục tiêu đổi mới toàn diện nhưng đổi mới tư duy là mặt trận hàng đầu. Đổi mới tư duy trước tiên là tư duy về mô hình và bước đi của CNXH. Về mô hình CNXH cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể đất nước, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, không giáo điều, nóng vội. Đại hội nhận thức sâu sắc đặc điểm bước đi của thời kỳ quá độ ở Việt Nam là rất lâu dài và khó khăn, trong đó “Chặng đường đầu tiên là một bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn”. Công cuộc đổi mới toàn diện được bắt đầu từ quan điểm cải tạo XHCN, cơ chế quản lý kinh tế, công nghiệp hóa XHCN, xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản, đổi mới chính sách xã hội...

Với sự trải nghiệm sâu sắc từ quá trình lãnh đạo đất nước, đặc biệt là những năm đầu sau giải phóng, tại Đại hội VI, Đảng ta đã rút ra 4 bài học kinh nghiệm lớn, có ý nghĩa chỉ đạo cho công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam: Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động; hai là, Đảng phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan; ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới; bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng XHCN.

 Đại hội VI xác định đúng đắn trọng tâm công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, đây là yếu tố quyết định tạo sự ổn định và giữ vững định hướng XHCN trong bối cảnh có nhiều khó khăn, phức tạp. Đại hội định hình những tư tưởng đổi mới quan trọng về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; về xây dựng chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là xây dựng đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên.

---------------

TS Trần Thị Nhẫn, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với thực tiễn đất nước

Sau gần 35 năm Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trên cả phương diện nhận thức-lý luận và thực tiễn.

leftcenterrightdel
TS Trần Thị Nhẫn

Về lý luận, Đảng đã hình thành hệ thống quan điểm, chủ trương về đẩy mạnh CNH, HĐH, nhận thức về đặc điểm, nội dung CNH, HĐH của Đảng ngày càng sáng rõ hơn. Đó là: CNH, HĐH gắn với quan hệ sản xuất phù hợp; phải dựa trên sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế; gắn với phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và vai trò quản lý của Nhà nước, các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại. Về thực tiễn, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nghề nông, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH và chuyển toàn bộ hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế có tư duy công nghiệp.

Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thành tựu đất nước đạt được từ quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH là rất quan trọng, tạo ra thế và lực cho Việt Nam tiếp tục thực hiện mục tiêu đổi mới, đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra: Đường lối CNH, HĐH của Đảng có những thay đổi cơ bản theo hướng phù hợp hơn với các điều kiện của thời đại, nhưng còn dừng lại ở mức tổng quát, thiếu cụ thể cả về nội dung, lộ trình và các điều kiện thực hiện. Mô hình CNH, HĐH của Việt Nam chưa được cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của một nước công nghiệp. Đặc biệt, những năm gần đây, mô hình CNH, HĐH bộc lộ rõ những điểm không còn phù hợp. Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng nhưng chưa trở thành động lực thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao khả năng cạnh tranh...

Trên cơ sở nền tảng CNH, HĐH đạt được, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và tập trung lãnh đạo đẩy mạnh CNH, HĐH phù hợp với thực tiễn đất nước trong giai đoạn tiếp theo; đưa Việt Nam sớm hoàn thành mục tiêu CNH, HĐH và CNXH.

---------------

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hưởng, nguyên chuyên viên Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự: Cách mạng Tháng Mười soi sáng cách mạng Việt Nam

Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 làm rung chuyển thế giới, đi vào lịch sử nhân loại như là một sự kiện vĩ đại có ý nghĩa to lớn, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu rộng. Cách mạng Tháng Mười đã soi sáng cách mạng Việt Nam.

leftcenterrightdel
Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hưởng

Cách mạng Tháng Mười soi sáng việc lựa chọn và đi theo con đường XHCN, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước tiến lên CNXH. Những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, vấn đề xóa bỏ mọi gông xiềng áp bức, bóc lột của đế quốc, thực dân, thực hiện “dân tộc giải phóng”, giành độc lập, tự do là vấn đề hàng đầu của dân tộc Việt Nam. Giải quyết vấn đề hàng đầu này, trong thực tiễn lịch sử đã có nhiều lập trường và cách thức khác nhau. Các phương hướng, cách thức giải quyết đã được lịch sử khảo nghiệm và đi đến lựa chọn cuối cùng. Từ chủ nghĩa yêu nước, mong muốn tìm lời giải cho nhu cầu của lịch sử dân tộc đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta đã đưa nhân dân lên làm chủ nước nhà, là cuộc cách mạng được soi sáng và cổ vũ bởi Cách mạng Tháng Mười.

Để nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do là nhiệm vụ trọng đại và cũng là một thử thách to lớn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, sau khi đã hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đó cũng là lý tưởng của Cách mạng Tháng Tám, của Cách mạng Tháng Mười. Gần 35 năm qua, sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; từ đó có thể khẳng định rằng: Con đường đi lên CNXH của nước ta theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.

---------------

Đảng viên trẻ Phạm Đức Lượng (Học viện Báo chí và Tuyên truyền): Vinh dự, tự hào tiếp bước cha anh

Vai trò của thanh niên được Đảng ta xác định: “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

leftcenterrightdel
Đảng viên trẻ Phạm Đức Lượng

Thế hệ thanh niên chúng tôi được thừa hưởng những thành quả cách mạng của cha anh để lại; được sinh ra, lớn lên trên một đất nước có môi trường hòa bình, ổn định, có đầy đủ điều kiện thuận lợi để phát triển. Để xứng đáng với điều đó, thanh niên cần khẳng định mình là lực lượng tiên phong, nòng cốt trên các mặt trận, xứng đáng là “rường cột của nước nhà”.

Những năm qua, đoàn viên thanh niên, đảng viên trẻ của Học viện Báo chí và Tuyên truyền luôn nhận thức sâu sắc trách nhiệm và nhiệm vụ; vinh dự và cảm thấy tự hào khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Đây là động lực quan trọng và to lớn để chúng tôi phấn đấu rèn luyện, cống hiến, tiếp bước cha anh, xứng đáng với những kỳ vọng cũng như những thành quả của cách mạng mà chúng tôi đang được thừa hưởng.

Trong thời kỳ hội nhập phát triển đất nước hiện nay, đang đặt ra những vấn đề mới; thuận lợi, khó khăn đan xen; đội ngũ đảng viên trẻ chúng tôi xác định cần không ngừng học tập rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, năng lực công tác, sức chiến đấu để góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, góp phần bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; góp sức mình vào công cuộc sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đặc biệt, với trách nhiệm của mình, đội ngũ thanh niên, đảng viên trẻ Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói riêng và đảng viên trẻ cả nước nói chung phải phát huy tốt hơn nữa trong tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu tiếp nối và phát huy truyền thống hào hùng của các thế hệ cha anh, vì cộng đồng, vì lợi ích quốc gia, dân tộc và chủ quyền quốc gia, tương lai đất nước.

————————-

Thượng tá Nguyễn Bá Lịch, Chính trị viên Kho 190, Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần: Xây dựng Đảng mạnh từ gốc

Để xây dựng đảng bộ TSVM, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy, hướng dẫn của cơ quan nghiệp vụ cấp trên mà thường xuyên, trực tiếp là Ban Thường vụ Đảng ủy, chỉ huy Cục Xăng dầu, chúng tôi làm tốt việc quán triệt, thực hiện nghiêm, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của trên, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Chú trọng phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ bí thư chi bộ, tổ trưởng tổ đảng, cơ quan chính trị, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy trong quán triệt, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện.

leftcenterrightdel
Thượng tá Nguyễn Bá Lịch.

Trong xây dựng tổ chức đảng TSVM, chúng tôi xác định khâu đột phá là xây dựng chi bộ; trong xây dựng chi bộ, lấy nội dung nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tổ đảng là vấn đề then chốt. Chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt tổ đảng là một trong những yếu tố quyết định sức sống, sự tồn tại, phát triển của chi bộ, tổ đảng. Do đó, muốn nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tổ đảng trước hết phải duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt. Thực tiễn chứng minh, những chi bộ TSVM là những chi bộ duy trì sinh hoạt chi bộ, tổ đảng nền nếp, có nội dung sinh hoạt phong phú, thiết thực, có hình thức đa dạng, sinh hoạt có chất lượng tốt.

Từ thực tiễn của việc thực hiện khâu đột phá nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt tổ đảng, Đảng ủy Kho 190 đã triển khai toàn diện các chủ trương, giải pháp, phát huy được vai trò của cấp ủy, chỉ huy, chính trị viên, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị và các tổ chức quần chúng trong xây dựng đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đảng bộ TSVM, đơn vị VMTD. Đó chính là cách xây dựng Đảng mạnh từ gốc.