Trình bày tờ trình dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo luật sửa đổi tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng không quy định về số lao động tham gia bảo hiểm xã hội, thay vào đó quy định số lao động bình quân năm; đồng thời, nâng mức trần xác định đối với các tiêu chí về lao động (không quá 300 người), tổng doanh thu (không quá 400 tỷ đồng) và tổng nguồn vốn (không quá 150 tỷ đồng).
 |
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: TRỌNG HẢI
|
Dự thảo luật sửa đổi quy định về hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn theo hướng kế thừa các quy định còn phù hợp và cụ thể hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW; mở rộng từ tiếp cận tín dụng sang đa dạng hóa các nguồn vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm tín dụng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, thị trường vốn, vốn đầu tư và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Bên cạnh đó, khuyến khích tổ chức tài chính, tín dụng đổi mới phương thức đánh giá khả năng trả nợ dựa trên dữ liệu về hoạt động, doanh thu, dòng tiền, giao dịch và tài sản hợp pháp của doanh nghiệp, giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm truyền thống.
Dự thảo bổ sung quy định nâng ngưỡng doanh thu được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản lên 10 tỷ đồng/năm đối với doanh nghiệp và cá nhân cư trú, nhằm tháo gỡ vướng mắc trong tuân thủ thủ tục hành chính về thuế. Đồng thời, tiếp tục quy định chế độ kế toán, thủ tục thuế đơn giản cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, tạo thuận lợi cho hoạt động và khuyến khích chuyển đổi từ hộ kinh doanh thành doanh nghiệp.
 |
| Quang cảnh phiên họp. Ảnh: TRỌNG HẢI |
Bên cạnh đó, sửa đổi, bổ sung quy định về hỗ trợ mặt bằng sản xuất, luật hóa đầy đủ các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh.
Dự thảo luật cho phép địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở ươm tạo cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại; quy định trách nhiệm dành một phần diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, thuê lại; hỗ trợ giảm tiền thuê lại đất.
Dự thảo luật bổ sung quy định về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ, người khuyết tật làm chủ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, nhiều lao động là người khuyết tật, doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo, thiết kế cơ chế hỗ trợ đặc thù cho các nhóm doanh nghiệp còn gặp nhiều bất lợi trong tiếp cận nguồn lực, thị trường và dịch vụ hỗ trợ.
Cùng với đó, nhiều quy định được bổ sung liên quan đến phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ thực hiện chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh theo hướng kế thừa quy định hiện hành và bổ sung các cơ chế hỗ trợ nhằm giảm chi phí gia nhập thị trường, chi phí tuân thủ sau chuyển đổi.
Về trách nhiệm của các bộ, cơ quan, theo dự thảo luật, Bộ Tài chính là đầu mối quản lý, điều phối hoạt động phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Bộ Tư pháp chủ trì hỗ trợ tuân thủ, phòng ngừa rủi ro pháp lý; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì hướng dẫn thực hiện chính sách về tín dụng và tài chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước. Sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp xã nhằm tăng tính chủ động trong ban hành chính sách, bố trí nguồn lực...
 |
| Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày báo cáo thẩm tra dự án luật. |
Thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành luật nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, khắc phục hạn chế, bất cập của Luật hiện hành, thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.
Cơ quan chủ trì thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát vướng mắc về kê khai thuế, kế toán, hóa đơn, để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Về hỗ trợ tiếp cận mặt bằng, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội lưu ý, việc dùng ngân sách địa phương đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê khó thực hiện ở địa phương có nguồn thu hạn chế; quy định bố trí bình quân 20ha mỗi khu công nghiệp, cụm công nghiệp hoặc 5% diện tích đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khó bảo đảm tính khả thi, do nhu cầu, quỹ đất giữa các địa phương khác nhau. Đối với chính sách giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu, đề nghị làm rõ nguồn ngân sách, cơ chế hoàn trả, không để phát sinh việc tăng giá thuê để hưởng hỗ trợ.