Dư địa từ những chuỗi sản xuất mới

Phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” tổ chức tại tỉnh Phú Thọ, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương khẳng định, công nghiệp hỗ trợ không phải là một bộ phận thứ yếu của nền công nghiệp mà là một trong những nền tảng hình thành năng lực công nghiệp quốc gia. Công nghiệp hỗ trợ càng phát triển, năng lực nội sinh của nền kinh tế càng được củng cố; giá trị tạo ra và giữ lại trong nước càng lớn; khả năng chống chịu trước những biến động bên ngoài càng cao.

Công nhân làm việc trên dây chuyền sản xuất tại Nhà máy Narae Sunhouse System. Ảnh: MINH NGUYỄN

Thời gian qua, hệ thống doanh nghiệp cung ứng trong một số ngành từng bước được hình thành, một số doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn trong và ngoài nước. Theo thống kê chưa đầy đủ được đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ dẫn tại hội thảo, cả nước hiện có hơn 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, khoảng 30% trong số đó đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, Phó thủ tướng Thường trực yêu cầu nhìn thẳng vào thực tế công nghiệp hỗ trợ vẫn “rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh”.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam mới đạt khoảng 18%, chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp lớn; cung ứng trong nước cho công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt khoảng 5-10%. Nhiều lĩnh vực như đúc, rèn, xử lý nhiệt, xử lý bề mặt còn những khoảng trống.

Trong khi đó, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng sự phát triển của các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot, pin, năng lượng mới, hàng không-vũ trụ đang mở ra những cơ hội mới. Trong nước, các dự án hạ tầng chiến lược như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi và các chương trình công nghệ chiến lược cũng tạo thị trường lớn cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc lưu ý, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước “hai nhịp” phải thực hiện đồng thời: Một mặt khắc phục những yếu kém, hoàn thành phần còn dở dang của quá trình công nghiệp hóa truyền thống; mặt khác không để những ngành mới đi vào “vết xe cũ”, có sản phẩm cuối cùng nhưng gần như toàn bộ linh kiện, vật liệu phải nhập khẩu.

Để thay đổi thực trạng này, đồng chí Phó thủ tướng Thường trực đề nghị chuyển từ “nội địa hóa theo tỷ lệ” sang “làm chủ năng lực”; từ hỗ trợ dàn trải sang tập trung theo chuỗi, công đoạn và những bài toán lớn; từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả; từ chú trọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sang sử dụng hiệu quả FDI, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Xuyên suốt quá trình này là nguyên tắc doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm, Nhà nước kiến tạo và tạo thị trường ban đầu.

Nhân lực phải theo kịp yêu cầu sản xuất

Có cơ hội phát triển lớn, nhưng một trong những điểm nghẽn hiện nay nằm ở chất lượng nguồn nhân lực. Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có khả năng trở thành nhà cung ứng trực tiếp cho các tập đoàn lớn còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về vốn dài hạn, công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn, nhân lực kỹ thuật và năng lực nghiên cứu-phát triển. Liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm kỹ thuật chưa thực sự trở thành một hệ sinh thái hiệu quả.

Để tham gia chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam phải đủ mạnh, có khả năng thích ứng khi sản phẩm, mẫu mã liên tục thay đổi và đáp ứng các tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi. Điều đó đặt ra yêu cầu phải chuyển từ đáp ứng nhu cầu lao động đơn thuần về số lượng sang nâng cao chất lượng và kỹ năng. 

Vì vậy, các chuyên gia kinh tế cho rằng, yêu cầu hiện nay là cần phát triển nguồn nhân lực chiến lược, ưu tiên kỹ sư thiết kế, kỹ sư hệ thống, tổng công trình sư, thợ gia công chính xác, kỹ thuật viên phòng sạch; đào tạo cần chuyển mạnh theo nhu cầu xã hội và đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu, nhà khoa học với doanh nghiệp từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất. Trước mắt, ưu tiên các lĩnh vực cơ khí chính xác, điện-điện tử, bán dẫn, pin và vật liệu mới.

Đây cũng là hướng để khắc phục khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào xác định tiêu chuẩn kỹ năng, nhu cầu nhân lực và quá trình đào tạo; các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần cập nhật chương trình theo sự thay đổi của công nghệ. Đối với người lao động, việc học tập, đào tạo lại và cập nhật kỹ năng phải trở thành yêu cầu thường xuyên.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ không đơn thuần là câu chuyện sản xuất thêm linh kiện hay nâng tỷ lệ nội địa hóa, quan trọng hơn là tạo được thị trường cho doanh nghiệp, từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng những công đoạn có giá trị cao. Khi Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu tạo được mối liên kết chặt chẽ, sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ sẽ góp phần mở rộng việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh: “Không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng lắp ráp”. Muốn vươn lên những vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, Việt Nam cần đồng thời xây dựng doanh nghiệp đủ mạnh, làm chủ thêm công nghệ và hình thành đội ngũ lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.