Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra câu hỏi: Ngành công nghiệp CNTT, điện tử viễn thông (ĐTVT) Việt Nam cần làm gì để đón được làn sóng dịch chuyển đầu tư nêu trên?

Nhân công giá rẻ, chất lượng thấp không còn là lợi thế

Nếu trong các giai đoạn trước năm 2015, ngành công nghiệp CNTT, ĐTVT được đánh giá là quy mô nhỏ, giá trị gia tăng chưa cao thì từ năm 2015 trở lại đây, ngành CNTT, ĐTVT có vị thế hoàn toàn khác, trở thành ngành có quy mô lớn của nền kinh tế cả về doanh thu, xuất khẩu, đóng góp hơn 14% cho GDP. Tính đến thời điểm này, nước ta có 40.000 doanh nghiệp CNTT, ĐTVT đủ các loại hình phát triển nhiều sản phẩm thương hiệu Việt Nam trong lĩnh vực phần cứng-điện tử, phần mềm, nội dung số và dịch vụ CNTT.

Ngành công nghiệp CNTT, ĐTVT hiện có nhiều lợi thế để phát triển. Đó là bởi nước ta đang thực hiện chiến lược chuyển đổi số quốc gia; cùng với đó, sự thành công khi kiểm soát tốt dịch Covid-19 giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn công nghệ trên thế giới. Tuy cơ hội lớn nhưng việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt với việc tự nghiên cứu và phát triển để có sản phẩm của chính mình không phải là chuyện dễ dàng đối với ngành CNTT, ĐTVT.

Việt Nam có khoảng 40.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT, ĐTVT nhưng 99,2% là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, 0,4% là doanh nghiệp vừa và 0,4% là doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp quy mô nhỏ dẫn đến các hoạt động đầu tư về nghiên cứu phát triển, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo gặp nhiều khó khăn. Số doanh nghiệp CNTT, ĐTVT Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ lớn hàng đầu thế giới còn ít. 

leftcenterrightdel
Dây chuyền sản xuất điện thoại Vsmart tại Công ty Nghiên cứu và Sản xuất VinSmart (Tập đoàn Vingroup). Ảnh: DUY THÀNH.

Nhiều ý kiến cho rằng, nội lực của doanh nghiệp CNTT, ĐTVT Việt Nam còn yếu là do thiếu cơ chế, chính sách tạo đà phát triển. Trước vấn đề trên, ông Nguyễn Thanh Tuyên, Phó vụ trưởng Vụ CNTT (Bộ Thông tin và Truyền thông-TT&TT) cho biết, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước không có khoản mục chi cho phát triển công nghiệp CNTT, ĐTVT nên Nhà nước khó hỗ trợ doanh nghiệp. Trong khi đó, các nước có nền CNTT phát triển như Ấn Độ, Hàn Quốc đều có khoản chi cho phát triển doanh nghiệp, sản phẩm hay dịch vụ CNTT.

Ngành công nghiệp CNTT, ĐTVT của nước ta có nguồn vốn nhỏ từ quỹ khoa học công nghệ nhưng quy trình, thủ tục sử dụng quỹ này còn bất cập đã hạn chế doanh nghiệp nhận vốn đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, nguồn chi cho CNTT trong hoạt động xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại cũng không nhiều. 

Trong thu hút FDI (doanh nghiệp nước ngoài) vào lĩnh vực công nghệ, Việt Nam vốn được biết đến với lợi thế lao động giá rẻ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng hỗ trợ chiến lược, Tổ hợp Samsung Việt Nam nhận định, điều này không được xem là thế mạnh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Ông Nguyễn Anh Tuấn phân tích thêm, các nước trong khu vực có nhiều ưu đãi rất lớn thu hút FDI. Cùng với đó, nhân lực của Ấn Độ có trình độ CNTT cao; số lượng kỹ sư, người lao động lĩnh vực CNTT được đào tạo hằng năm thuộc diện cao nhất thế giới. Thực tế trên đòi hỏi Việt Nam phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia sáng tạo, tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm. Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về CNTT, ĐTVT còn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Đây là câu chuyện không mới nhưng chưa bao giờ cũ. Theo đánh giá của bà Đỗ Thị Thúy Hương, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, các cơ sở đào tạo vẫn mang nặng tính hàn lâm và coi nhẹ thực tế. Một điểm nữa khiến các cơ sở đào tạo còn yếu là máy móc thiết bị thực hành quá cũ và khó cập nhật. 

Cần được tiếp sức từ chính sách

Để xây dựng Việt Nam là điểm đến hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài về CNTT, ĐTVT, trước hết ngành CNTT, ĐTVT nước nhà cần được hỗ trợ để doanh nghiệp Việt Nam làm chủ các sản phẩm công nghệ của chính mình, từ đó tăng tính tự chủ, vị trí quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Nguyễn Thanh Tuyên, Phó vụ trưởng Vụ CNTT đề xuất, ngành công nghiệp CNTT, ĐTVT cần được khơi thông nguồn vốn. Theo đó, cần xem xét sửa đổi Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước để có khoản chi cho CNTT. Cùng với đó, cập nhật các nội dung liên quan đến công nghiệp CNTT, ĐTVT quy định tại Luật CNTT (năm 2006) và các văn bản hướng dẫn luật. Ngoài ra, xây dựng cơ chế, chính sách cho phép doanh nghiệp thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm bởi CNTT là ngành nghề mang tính đặc thù, nhiều rủi ro, công nghệ thay đổi liên tục. Một trong những điểm cần phải đặt ra trong thu hút FDI là phải lựa chọn doanh nghiệp FDI công nghệ cao, sạch và có lộ trình nội địa hoá, đưa doanh nghiệp Việt Nam vào trong mạng lưới của họ.

Đồng tình với quan điểm trên, bà Đỗ Thị Thúy Hương chia sẻ câu chuyện thực tế về những lợi ích khi doanh nghiệp FDI có thiện chí hỗ trợ doanh nghiệp trong nước. Cụ thể, mỗi năm, Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử giới thiệu khoảng 10-15 doanh nghiệp ngành điện tử cho Samsung để tham gia chương trình tư vấn cải tiến. Các doanh nghiệp này không nhất thiết phải là nhà cung cấp cho Samsung. Kết quả cho thấy, các doanh nghiệp có sự thay đổi rõ rệt trước và sau khi tham gia chương trình tư vấn cải tiến. Việc này giúp doanh nghiệp biết được điểm mạnh, điểm yếu, cần cải tiến quy trình như thế nào để có cơ hội cao hơn tham gia vào chuỗi sản xuất của các nhà cung ứng lớn. 

Khi được đặt câu hỏi doanh nghiệp CNTT, ĐTVT Việt Nam nên làm gì để có thể tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh việc cần thay đổi tư duy. Các doanh nghiệp phải xác định rằng, việc đầu tư dây chuyền sản xuất, thiết kế sản phẩm không phải chỉ dành riêng cho Samsung hay bất cứ một doanh nghiệp cụ thể nào mà phải xác định cung ứng dịch vụ cho các công ty toàn cầu. Nếu Samsung không sử dụng do không phù hợp thì còn nhiều cơ hội từ doanh nghiệp nước ngoài khác. 

Đào tạo "thực chiến"

Nhân lực CNTT, ĐTVT để thực hiện khâu gia công, lắp ráp chỉ cần lao động phổ thông nên không phải là bài toán quá khó đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu muốn chọn lọc, thu hút những doanh nghiệp FDI có dự án công nghệ cao cũng như phát triển ngành CNTT, ĐTVT bền vững, thì cần phát triển đội ngũ nhân lực có chất lượng tốt và xây dựng các trung tâm nghiên cứu. Bộ TT&TT đã đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội lên danh sách các trường đại học, cao đẳng nghề trọng điểm để có chương trình đào tạo trọng tâm cho nguồn nhân lực chất lượng cao chứ không phải đào tạo đại trà. Nhóm đối tượng này không dừng ở đào tạo đơn thuần mà phải làm nghiên cứu và hướng đến đẳng cấp quốc tế. Bên cạnh đó, ông Nguyễn Thanh Tuyên nhấn mạnh, doanh nghiệp cần có trách nhiệm tham gia đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT, ĐTVT, coi nhân lực là một trong những vốn cốt lõi của doanh nghiệp.

Trong khi đó, Giám đốc Hệ thống đào tạo CNTT quốc tế Bách Khoa Aptech Nguyễn Duy Quang nêu ý kiến, CNTT, ĐTVT là ngành đòi hỏi thực hành, "thực chiến" rất nhiều và chương trình đào tạo phải bám sát thực tế. Do đó, sự kết nối giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo là vô cùng cần thiết. Chỉ có doanh nghiệp mới biết họ đang làm gì, phát triển xu hướng ra sao để góp ý sát thực tiễn. Dẫn chứng thực tế từ chính đơn vị của mình, ông Quang cho biết, Bách Khoa Aptech có liên kết với 60 doanh nghiệp CNTT. Mỗi năm một lần, đơn vị này sẽ tổ chức hội thảo cùng với các doanh nghiệp để xem xét chương trình giảng dạy liệu có phù hợp, có đi đúng hướng không và nên thay đổi điều gì.

VŨ MY