Các yếu tố không kinh doanh trong doanh nghiệp

Ngoài 9 yếu tố kinh doanh chính trong mô hình kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp (là các yếu tố trực tiếp tạo ra doanh thu) bao gồm: (1) Các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ chốt; (2) Dòng doanh thu; (3) Nguồn lực kinh doanh; (4) Các đối tác chính; (5) Cơ cấu chi phí; (6) Phân khúc khách hàng; (7) Giá trị sản phẩm, dịch vụ cung cấp; (8) Quan hệ khách hàng; (9) Kênh phân phối và truyền thông, doanh nghiệp có các yếu tố không kinh doanh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, môi trường làm việc: Môi trường làm việc trong doanh nghiệp là toàn bộ điều kiện, cách vận hành và bối cảnh mà người lao động làm việc hằng ngày (từ con người, quy định đến không gian và văn hóa). Môi trường này ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thoải mái, hiệu suất, tinh thần và sự gắn bó của nhân viên. Các yếu tố thường có trong môi trường làm việc bao gồm:

(i) Văn hóa doanh nghiệp (giá trị cốt lõi, niềm tin và chuẩn mực hành vi; phong cách lãnh đạo và mức độ tôn trọng con người; cách doanh nghiệp ghi nhận, khen thưởng và xử lý vi phạm); quan hệ con người (quan hệ giữa đồng nghiệp - hợp tác, hỗ trợ, chia sẻ; quan hệ với cấp quản lý - minh bạch, phản hồi, công bằng); mức độ đoàn kết - tâm lý “tôn trọng - tin cậy” trong nhóm.

(ii) Cơ chế quản lý và quy định: Quy trình làm việc, phân công nhiệm vụ; tính minh bạch trong mục tiêu, đánh giá và kỷ luật; chính sách giải quyết xung đột, khiếu nại, phản hồi.

(iii) Điều kiện làm việc (vật chất): Không gian làm việc, ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh; trang thiết bị, công cụ hỗ trợ, an toàn lao động; môi trường vệ sinh, tiện ích (nhà ăn, phòng nghỉ, đi lại…; chính sách lương thưởng, phúc lợi; mức lương tương xứng, cơ chế tăng lương và thưởng rõ ràng; phúc lợi (bảo hiểm, nghỉ phép, khám sức khoẻ…; tính công bằng trong chính sách.

(iv) Tính chất công việc: Mức độ phù hợp kỹ năng, rõ ràng về vai trò và kỳ vọng; khối lượng công việc, nhịp độ và áp lực tiến độ; mức độ tự chủ, quyền ra quyết định và cơ hội sáng tạo.

(v) Cơ hội học tập và phát triển: Đào tạo, kèm cặp (coaching/mentoring); lộ trình nghề nghiệp, cơ hội thăng tiến; chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực.

(vi) Giao tiếp nội bộ: Kênh thông tin (họp, email nội bộ, chat, bản tin…; mức độ truyền đạt mục tiêu, chiến lược và thay đổi kịp thời; văn phong giao tiếp.

(vii) Ý thức về cân bằng công việc và cuộc sống: Thời giờ làm việc, làm thêm; chính sách nghỉ ngơi, giảm quá tải trong thời gian cao điểm; văn hóa tôn trọng ranh giới cá nhân…

 Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Ảnh: qdnd.vn

Thứ hai, tâm trạng của người lao động: Tâm trạng của người lao động trong doanh nghiệp thường thay đổi theo từng giai đoạn (lúc mới vào, đang phát triển, khi áp lực cao, lúc thay đổi tổ chức…) và chịu ảnh hưởng bởi cách doanh nghiệp vận hành. Nhìn chung, tâm trạng có thể xoay quanh các trạng thái phổ biến sau:

(i) Tâm trạng tích cực (khi người lao động được hỗ trợ tốt): Tin tưởng và an tâm: Cảm thấy công bằng, minh bạch, ít lo “bị đối xử không đúng”; tự hào và gắn bó: Thấy công việc có ý nghĩa, phù hợp giá trị cá nhân; động lực và hứng thú: Có mục tiêu rõ ràng, được công nhận và có cơ hội phát triển; hợp tác tốt: Quan hệ đồng nghiệp thân thiện, hỗ trợ nhau khi khó khăn.

(ii) Tâm trạng trung tính (khi mọi thứ “ổn” nhưng chưa tạo đột phá): Chấp nhận và làm theo quy trình - không quá căng thẳng, nhưng cũng không nhiều cảm hứng; hiểu kỳ vọng nhưng ít được trao quyền - biết mình phải làm gì, song khó chủ động cải thiện; không chắc về tương lai: Chưa rõ lộ trình nghề nghiệp hoặc chính sách dài hạn.

(iii) Tâm trạng tiêu cực (khi gặp vấn đề kéo dài hoặc thiếu công bằng): Lo lắng và stress - áp lực tiến độ, chỉ tiêu cao, thiếu nguồn lực; mất động lực - làm nhiều nhưng ít được ghi nhận, thưởng/phúc lợi không tương xứng; bất mãn do thiếu công bằng - đánh giá hiệu suất mơ hồ, thiên vị, kỷ luật không nhất quán; căng thẳng trong quan hệ - xung đột giữa các phòng ban, giao tiếp thiếu tôn trọng; Chán nản, kiệt sức - quá tải lâu ngày, thiếu thời gian phục hồi. Tâm trạng “đột biến” khi có thay đổi: Sợ hãi, hoang mang khi tái cơ cấu, thay sếp, thay KPI đột ngột; hy vọng khi có chính sách mới cải thiện lương thưởng, đào tạo, minh bạch đánh giá; bán tín bán nghi nếu doanh nghiệp truyền thông tốt nhưng thực thi không nhất quán.

Thứ ba, nhìn nhận của xã hội, công chúng về doanh nghiệp: Nhìn nhận của xã hội, công chúng về doanh nghiệp thường dựa trên trải nghiệm trực tiếp (sản phẩm/dịch vụ), thông tin truyền thông và mức độ doanh nghiệp “đóng vai” như một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng. Thực tế, cảm nhận có thể tập trung vào các nhóm sau:

(i) Sự tin tưởng và uy tín: Doanh nghiệp có thực hiện đúng cam kết (chất lượng, thời hạn, bảo hành); minh bạch về thông tin, giá cả, điều khoản; có lịch sử ổn định và phản hồi hợp lý khi có sự cố.

(ii) Đánh giá về sản phẩm/dịch vụ và giá trị nhận được: Chất lượng tương xứng với giá; mức độ tiện lợi (dịch vụ nhanh, dễ tiếp cận, chăm sóc khách hàng); trải nghiệm người dùng (thái độ nhân viên, kênh hỗ trợ).

(iii) Cảm nhận về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm: Có hay không các vấn đề như gian dối quảng cáo, “lách luật”, thao túng thông tin; tính công bằng trong phân phối, hợp tác (đối tác/nhà cung cấp); tuân thủ pháp luật và quy định ngành.

(iv) Tác động đến cộng đồng và môi trường: Mức độ tham gia hoạt động vì cộng đồng (từ thiện, giáo dục, việc làm); bảo vệ môi trường (xử lý chất thải, phát thải, sử dụng tài nguyên); quan điểm và hành động với các vấn đề xã hội (an toàn, lao động, quyền con người…).

(v) Đánh giá về người lao động (qua “lăng kính” xã hội): Cách doanh nghiệp đối xử với nhân viên; lương thưởng, điều kiện làm việc, an toàn; văn hóa doanh nghiệp - tôn trọng - minh bạch - ghi nhận; có hay không các “sự việc” bị truyền thông (tranh chấp lao động, tố cáo…).

(vi) Hình ảnh thương hiệu trên truyền thông: Doanh nghiệp có truyền thông nhất quán, nội dung hữu ích, không gây hiểu lầm? Mức độ quản trị khủng hoảng khi xảy ra sự cố (phản hồi nhanh, chịu trách nhiệm, khắc phục).

(vii) Nhận xét của cộng đồng trực tuyến: Đánh giá, phản hồi từ khách hàng trên các kênh: Mạng xã hội, review, diễn đàn; tần suất phản ánh tiêu cực và cách doanh nghiệp đối thoại với công chúng.

Thứ tư, định hướng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ chốt: Định hướng cho các hoạt động chủ chốt của doanh nghiệp là việc xác định “doanh nghiệp sẽ tập trung làm gì để đạt mục tiêu chiến lược”, đồng thời phân bổ nguồn lực và nguyên tắc vận hành cho từng mảng hoạt động quan trọng. Khung định hướng thường gồm các phần sau:

(i) Gắn với tầm nhìn, sứ mệnh, chiến lược: Xác định tầm nhìn và sứ mệnh “xương sống” cho mọi hoạt động; chuyển chiến lược dài hạn thành các mục tiêu ưu tiên (top priorities); làm rõ giá trị cốt lõi để định hình cách ra quyết định; xác định khách hàng trọng tâm và đề xuất giá trị (value proposition); quy định nguyên tắc: Hoạt động nào “phải làm”, hoạt động nào “không ưu tiên”.

(ii) Xác định các hoạt động chủ chốt (core activities): Xác định chuỗi tạo giá trị: Đầu vào → vận hành → sản phẩm/dịch vụ → đầu ra; lựa chọn 3 - 7 hoạt động “quyết định” tới doanh thu/lợi thế cạnh tranh; chuẩn hóa phạm vi từng hoạt động (ai làm, làm gì, đầu ra là gì); chỉ ra phụ thuộc giữa các hoạt động (đầu vào cần gì, bàn giao cho ai); loại bỏ/giảm các hoạt động không tạo giá trị hoặc gây tốn nguồn lực.

(iii) Thiết kế mục tiêu, KPI và tiêu chuẩn thực thi: Đặt mục tiêu theo hướng đo lường (OKR/KPI) cho từng hoạt động chủ chốt; xác định chỉ số đầu vào - đầu ra (lead vs lag indicators); thiết lập chuẩn chất lượng, SLA, quy trình kiểm soát và tiêu chí nghiệm thu; gắn KPI với hành vi mong muốn (không chỉ “đạt số” mà còn “đúng cách”); tạo cơ chế theo dõi định kỳ: Dashboard, báo cáo, rà soát rủi ro.

(iv) Phân bổ nguồn lực và quản trị thay đổi: Xác định ngân sách, nhân sự, công nghệ cần thiết cho từng hoạt động; thiết lập cơ cấu trách nhiệm (RACI), quyền hạn và luồng ra quyết định; xây “roadmap” theo giai đoạn: Ngắn hạn (ổn định), trung hạn (tăng trưởng), dài hạn (tái định hình); quản trị rủi ro: Rủi ro vận hành, tài chính, pháp lý, uy tín; cơ chế cải tiến liên tục: Thu thập phản hồi → thử nghiệm → tối ưu.

Thứ năm, các hoạt động của các tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội:

Các hoạt động của các tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp là các hoạt động nhằm tổ chức, vận động và phát huy vai trò của lực lượng lao động theo mục tiêu chính trị – xã hội, đồng thời góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, ổn định quan hệ lao động và nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động.

(i) Hoạt động của tổ chức Đảng: Công tác xây dựng Đảng: Sinh hoạt chi bộ, đánh giá đảng viên, kết nạp/quản lý đảng viên; lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị: Định hướng, kiểm tra giám sát hoạt động của đơn vị đảm bảo đúng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; công tác dân vận: Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng người lao động; tuyên truyền chủ trương, chính sách; phòng, chống tiêu cực, vi phạm: Kiểm tra, giám sát, xử lý theo quy định; thực hiện các mô hình/đề án: “Dân vận khéo”, “thực hành theo Bác”, cải tiến sáng kiến gắn với sản xuất kinh doanh.

(ii) Hoạt động Công đoàn (tổ chức đại diện người lao động): Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động: Thương lượng, giám sát thực hiện thỏa ước lao động; phong trào thi đua - năng suất lao động: Thi đua theo đợt, sáng kiến cải tiến, khen thưởng; chăm lo đời sống: Thăm hỏi ốm đau, hỗ trợ khó khăn, tổ chức hoạt động văn hóa - thể thao; tuyên truyền pháp luật lao động: Nội quy, kỷ luật, an toàn vệ sinh lao động, chế độ chính sách; đối thoại nơi làm việc: Phối hợp tổ chức đối thoại định kỳ, tiếp nhận kiến nghị của người lao động.

(iii) Hoạt động Đoàn Thanh niên: Phong trào tuổi trẻ: Tình nguyện, “đồng hành cùng doanh nghiệp”, hoạt động sáng tạo; nâng cao tay nghề: cuộc thi tay nghề, câu lạc bộ kỹ năng, đào tạo nội bộ cho đoàn viên; công trình/thành tích thanh niên: Dự án cải tiến, chương trình tiết kiệm, chuyển đổi số quy mô nhỏ; tuyên truyền, giáo dục: Định hướng lối sống, kỹ năng nghề nghiệp, văn hóa doanh nghiệp…

(iv) Hoạt động Hội Liên hiệp Phụ nữ (hoặc Ban Nữ công): Chăm lo và bảo vệ quyền lợi: Chế độ thai sản, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực; phát triển kỹ năng và năng lực cho lao động nữ: Đào tạo, mentoring, hỗ trợ học nghề; phong trào thi đua: “Giỏi việc nước - đảm việc nhà”, văn hóa ứng xử nơi làm việc; hỗ trợ sinh hoạt cộng đồng: Hoạt động tinh thần, chăm lo hoàn cảnh khó khăn.

(v) Các tổ chức Chính trị - xã hội khác (tùy loại hình doanh nghiệp): Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội người cao tuổi… nếu có đối tượng phù hợp; hoạt động hỗ trợ cộng đồng: Tham gia chương trình địa phương nơi doanh nghiệp đóng chân; kết nối chính sách an sinh: Phối hợp làm cầu nối nguồn lực cho người lao động (đặc biệt nhóm yếu thế).

Các hoạt động “giao thoa” thường gặp giữa các tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội: Tuyên truyền chủ trương, chính sách và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội: Xây dựng môi trường làm việc lành mạnh; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở: Công khai thông tin liên quan người lao động theo quy định; giải quyết kiến nghị, phản ánh: Kênh tiếp nhận - tổng hợp - đối thoại - đề xuất giải pháp; phong trào thi đua và cuộc vận động gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Sự cần thiết của các yếu tố không kinh doanh trong doanh nghiệp

Với các nội dung của các yếu tố không kinh doanh như trên, ta thấy rằng, bên cạnh các yếu tố kinh doanh, doanh nghiệp cũng rất cần có các yếu tố không kinh doanh. Các yếu tố không kinh doanh không đối nghịch, tồn tại độc lập với các yếu tố kinh doanh mà là cùng tồn tại, tương hỗ lẫn nhau để phát triển doanh nghiệp.

Để các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ chốt của doanh nghiệp thực sự có hiệu quả, bền vững, cần có định hướng đúng về các hoạt động đó. Đây không phải là công việc của các bộ phận trực tiếp kinh doanh mà do bộ phận hổ trợ kinh doanh như: Chiến lược, kế hoạch thực hiện. Trong các doanh nghiệp nhà nước thì định hướng đó trước hết phải được xác định từ tổ chức đảng tại doanh nghiệp; các vấn đề lớn, dự án lớn của doanh nghiệp phải có sự chấp thuận/quyết định của cấp ủy của tổ chức đảng tại doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, thách thức trong hoạt động kinh doanh thì tổ chức đảng có các chủ trương, nghị quyết để lãnh đạo các đảng viên tập trung thực hiện giải quyết vấn đề; các đoàn thể, tổ chức chính trị  - xã hội tổ chức các phong trào thi đua để thực hiện tốt các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu.

Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì sản phẩm, dịch vụ phải được khách hàng tiêu thụ, mà muốn khách hàng tiêu thụ thì phải làm cho khách hàng hài lòng về sản phẩm dịch vụ và cung cách bán hàng của doanh nghiệp. Mà điều đó trước hết phụ thuộc vào chất lượng của đội ngũ người lao động của doanh nghiệp. Chất lượng làm việc của người lao động lại phụ thuộc vào môi trường làm việc và tâm trạng của người lao động. Muốn nâng cao chất lượng lao động cần phải có môi trường làm việc tốt và người lao động có tâm trạng tích cực. Các hoạt động của tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp đều hướng vào nội dung xây dựng môi trường làm việc tốt hơn và nâng cao đời sống tinh thần đối với người lao động, làm cho người lao động có tâm trạng tích cực trong công việc.

Hình ảnh xã hội của doanh nghiệp cũng được nâng lên rất nhiều trong mắt công chúng thông qua các hoạt động của các tổ chức đảng, đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp. Định hướng tuyên truyền và các hoạt động tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng của tổ chức đảng; các hoạt động kết nối cộng đồng thông qua các chương trình an xinh xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội giúp cho doanh nghiệp gia tăng giá trị, tính chân chính, tính hữu ích và thân thiện trong xã hội, từ đó thu hút cộng đồng đến với doanh nghiệp, sử dụng các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.

Như vậy, doanh nghiệp không chỉ được phát triển bởi các yếu tố kinh doanh mà còn phải bằng cả các yếu tố không kinh doanh. Phải chăm sóc các yếu tố không kinh doanh thì việc kinh doanh của doanh nghiệp mới có thể phát triển bền vững. Các yếu tố không kinh doanh không trực tiếp tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp nhưng gián tiếp làm cho doanh thu, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gia tăng bền vững, vì các yếu tố đó quyết định năng lực vận hành, chất lượng dịch vụ, mức độ ổn định và khả năng mở rộng của doanh nghiệp. Chăm sóc tốt các yếu tố không kinh doanh chính là cách xây “đòn bẩy ngầm” giúp doanh nghiệp tăng trưởng dài hạn.

Vì vậy, lãnh đạo quản lý của doanh nghiệp cần phải dành thời gian thích đáng, hợp lý cho các yếu tố không kinh doanh nói chung hay các hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội nói riêng. Tức là, cần chăm sóc các yếu tố không kinh doanh để phát triển kinh doanh!.