Bút tích ăn năn, hối lỗi của Thích Quảng Độ.

Những người đi khiếu kiện tố cáo

Trong quá trình tìm hiểu sự việc về những người đi khiếu kiện được nhận tiền “bảo trợ” của Thích Quảng Độ cùng nhóm tay chân của y, chúng tôi được cơ quan chức năng cho xem những lá đơn tố cáo của chính những người đi khiếu kiện (gửi qua đường bưu điện) về những hành vi của Thích Quảng Độ, mà theo họ là vi phạm pháp luật.

Đơn của anh Trần Văn Bé, nông dân ngụ ở xã Tân Hội (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), viết: “Trong suốt thời gian đi khiếu kiện ở đây (Vụ Công tác phía Nam-Văn phòng Quốc hội-PV), bản thân tôi cùng nhiều bà con vô cùng bức xúc trước sự việc diễn ra ngày 17-7, của một số thầy tu đã có những lời lẽ, hành động đi ngược lại với lợi ích dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam một cách trắng trợn… Trong nhóm 6 người tự xưng là của “Giáo hội Phật giáo, Việt Nam thống nhất” (GHPGVNTN), có một người tự xưng là Thích Quảng Độ. Ông ta đứng trên thềm cao, dùng loa phát biểu, hứa hẹn sẽ tài trợ tiền cho mỗi người dân để tiếp tục đeo bám khiếu kiện. Họ nói xấu chế độ, cho rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, đòi đa nguyên, đa đảng, tự do, dân chủ, nhân quyền… Qua những lời phát biểu của ông Độ, những người ít học như chúng tôi cũng dễ nhận thấy, ông ta là người bất mãn với chế độ. Nông dân chúng tôi có cái sai là khiếu kiện vượt cấp, nhưng chúng tôi lên đây là đòi hỏi công bằng về quyền lợi kinh tế, chứ không nhận tiền để đi đấu tranh chính trị như ông Độ…"

Còn đơn tố cáo của anh Lê Văn Tâm, ngụ ở xã An Cư (huyện Tịnh Biên-An Giang) viết: “… Tại đây (ở nơi khiếu kiện-PV), tôi và bà con được mấy ông thầy tu đến hỏi thăm và cho tiền giúp đỡ, mỗi người được mấy chục ngàn, lúc đầu chúng tôi ngỡ ngàng và rất mừng. Nhưng sau đó, có một lớn tuổi trong nhóm tu hành, được mấy ông thầy tu giới thiệu là Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa đạo của GHPGVNTN, cầm loa phát biểu kêu gọi chúng tôi tiếp tục khiếu kiện. Ông ta nói rằng, người dân chúng tôi mất cửa, mất nhà là mất quyền tự do, là chung cảnh ngộ với GHPGVNTN gì gì đó của ông ta. Ông ta còn nói xấu Nhà nước, nói xấu chế độ. Chúng tôi không biết ông Thích Quảng Độ này là ai, chúng tôi lên đây khiếu kiện là do có một vài ông cán bộ ở địa phương không chịu giải quyết rõ quyền lợi về ruộng đất cho chúng tôi, chứ chúng tôi không chống lại Nhà nước vì Nhà nước không xấu. Còn ông Quảng Độ phát biểu nói xấu Nhà nước, yêu cầu có chính phủ độc lập gì đó như vậy thì chúng tôi không chấp nhận. Chúng tôi nghĩ ông Quảng Độ là người không tốt, vì không ai lại đi nói xấu Nhà nước của mình. Chúng tôi không chấp nhận đất nước mình có những người xấu như ông Quảng Độ…”.

Ra mặt chống đối chính quyền

Không phải đến bây giờ Thích Quảng Độ mới ra mặt chống đối chính quyền cách mạng mà ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Thích Quảng Độ đã có những hoạt động chống phá, vi phạm pháp luật. Tháng 4-1977, Thích Quảng Độ cùng một số đối tượng khác như Huyền Quang, Thông Bửu, Thông Huệ, Thanh Thế, Nhật Thiện… bị bắt và tháng 12-1978 bị đưa ra xét xử tại TAND Thành phố Hồ Chí Minh. Trước đó, ngày 21-7-1977, Thích Quảng Độ đã tự thú nhận tội lỗi về việc phát tán “bản thông tư số 002” do y viết ra: “… Đứng về phương diện khách quan mà nói, quả thật ai đọc thông tư số 2 cũng phải sửng sốt kinh ngạc, cho rằng nội dung nó mang tính chất một lời hiệu triệu, kích động tăng ni, chống lại chính quyền cách mạng mặc dù điều đó ngoài chủ tâm và ý muốn của tôi. Chính bản thân tôi, bây giờ, mỗi khi nghĩ lại, cũng phải hoảng sợ và ân hận”. Bản thân y cũng tự nhận mình là “điên cuồng”, “ngây dại”: “Tôi không thể tưởng tượng trong một trạng thái ý thức bình thường và tỉnh táo, tôi lại có thể dùng những lời lẽ như thế được. Nhưng trong lúc đó, tâm trí bấn loạn, như điên cuồng, ngây dại, tựa hồ có mãnh lực nào ngoài tôi đưa đẩy ngòi bút, tôi hoàn toàn không còn ý thức gì về hậu quả tai hại mà những lời lẽ ấy có thể gây ra nữa”. Lúc đó, Thích Quảng Độ đã ăn năn về hành động của mình: “Tôi biết tôi có tội, nên khi bị chính quyền bắt giam tôi không ân hận gì. Tôi chỉ hối hận cho tôi là đã điên khùng dại dột, gây nên tội, nhưng mà hối bất cập, ăn năn thì đã muộn”. Và y đã có “nguyện vọng” với chính quyền: “Tôi thành khẩn xin chính quyền cách mạng lượng xét, khoan hồng tha thứ hoặc ân giảm tội trạng cho tôi, để tôi còn được cơ hội hối cải, học tập và rèn luyện những đức tính tốt hầu trở thành người công dân xứng đáng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi nguyện từ nay về sau sẽ không bao giờ còn tái phạm nữa và nếu có khả năng làm được gì, tôi sẽ tận lực góp phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Thực hiện chính sách khoan hồng đối với những kẻ biết sám hối, sau đó Nhà nước ta đã tha Thích Quảng Độ, cho về cư trú tại chùa Thanh Minh Thiền Viện, ở số 90 Trần Huy Liệu (phường 15, quận Phú Nhuận).

Sự “ăn năn” của Thích Quảng Độ chỉ được một thời gian, chứng nào tật ấy, tiếp tục có những hoạt động chống phá chính quyền, Thích Quảng Độ công khai chống lại chủ trương thống nhất Phật giáo toàn quốc. Thích Quảng Độ cùng một số đối tượng chống đối trong cái gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” tiến hành nhiều hoạt động nhằm cản trở việc chuẩn bị cho Đại hội thống nhất Phật giáo toàn quốc; tiếp tục duy trì các hoạt động mang danh nghĩa “GHPGVNTN”. Do Thích Quảng Độ liên tiếp có những hành vi chống đối, ngang nhiên lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để vi phạm pháp luật, nên tháng 1-1995, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với y. Tháng 8-1995, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử, tuyên phạt Quảng Độ cùng nhóm của y (Không Tánh, Đồng Ngọc, Nhật Thường và Trí Lực) 5 năm tù giam và thời hạn quản chế 5 năm về tội phá hoại chính sách đại đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước. Lần này thì Thích Quảng Độ lại có lời cam kết như sau với chính quyền các cấp, vào ngày 9-2-1995: “Sau khi vấn đề hiện nay của tôi được được giải quyết, tôi xin cam kết sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự liên hệ cũng như hành động mà có thể dẫn đến vi phạm luật pháp của Nhà nước một lần nữa. Nếu sau này tôi không giữ đúng lời cam kết trên đây thì tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Y còn hứa hẹn “tôi sẽ tìm một nơi yên tĩnh xa thành phố để dành hết thời giờ và năng lực còn lại để tiếp tục phiên dịch và hoàn thành bộ Phật Quang đại từ điển”… Thực hiện chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải, nhân dịp Quốc khánh 2-9-1998, Chủ tịch nước đã quyết định đặc xá, tha tù trước thời hạn cho Quảng Độ, trả về nơi cư trú cũ của y tại Thanh Minh Thiền Viện. Chính quyền địa phương, từ phường, quận đến thành phố luôn tạo điều kiện để Quảng Độ an tâm tu hành, chăm lo việc phiên dịch kinh sách.

Lợi dụng khiếu kiện để quậy phá thì phải trị cho nghiêm

Ngày 29-8-2007, chúng tôi gặp một số người dân tại phường Bình Thuận, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, có tham gia vào các đoàn khiếu kiện ở trụ sở tiếp dân của các cơ quan Nhà nước. Khi nhắc đến việc các ông Thích Quảng Độ và Thích Không Tánh lợi dụng tôn giáo, dùng tiền để dụ dỗ, lôi kéo người khiếu kiện với ý đồ đen tối, mọi người đều tỏ ra rất bất bình trước hành vi sai trái ấy.

Chị Trần Thị Gái, ngụ tại số 16, đường số 2, phường Bình Thuận, quận 7, nói: “Dù còn bất đồng với những trả lời khiếu kiện của một số cơ quan, nhưng tôi không bao giờ nghe lời xúi giục hay nhận tiền của những người như thế. Lương tâm của tôi không cho phép làm như vậy. Nếu cho tiền hay cho gạo… thì nhiều người, nhiều gia đình khác còn nghèo hơn, khổ hơn chúng tôi, sao họ không mang đến đó để làm từ thiện?”. Còn hai bà Phạm Thị Dung và Phạm Thị Lèo, đã ngoài 60 tuổi, cùng ngụ tại đường số 2, phường Bình Thuận, cho biết: “Chúng tôi khiếu kiện, nhưng không bao giờ nói xấu chính quyền. Người ta cầm lá đơn, hô hào cứu dân, cứu nước, thế nọ, thế kia nhưng chị em tôi đều ngồi nép sang một bên. Mọi việc đều đã có luật pháp. Mình nộp đơn xin hỗ trợ, nếu khi nào các cơ quan không chấp nhận đơn thì mình kêu nữa, còn đằng này người ta đã nhận đơn rồi, đã kêu mình vô giải thích, bảo đợi để trao đổi với người này, người kia thì bà con chúng tôi đâu có làm gì bậy bạ. Dù có thất học nhưng chúng tôi cũng hiểu chút chút về đời sống, biết cái gì là đúng, cái gì là sai. Với chúng tôi, việc nộp đơn chỉ mong được giải quyết hỗ trợ, còn nếu ai lợi dụng việc khiếu kiện của chúng tôi để quậy phá thì phải trị cho nghiêm, không để họ làm loạn xã hội. Còn tiền của mấy ổng, nếu các ổng giàu có mà làm điều tốt thì các ông ấy được hưởng phước, còn nếu làm sai thì phải bị pháp luật trừng trị”.

Sáng 30-8-2007, tại tổ đình Ấn Quang (ở đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh), chúng tôi đã có buổi tiếp xúc với Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phó chủ tịch kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh. Hòa Thượng Thích Trí Quảng cho biết: “Tôi không đồng tình, không chấp nhận chủ trương hô hào đa nguyên, đa đảng; xúi giục người dân đi khiếu kiện vượt cấp… của ông Thích Quảng Độ. Ở góc độ tôn giáo, tôi quan tâm đến nguyên nhân từ các địa phương khiến người dân ở các tỉnh về thành phố khiếu kiện vượt cấp. Nhưng giải quyết khiếu tố, khiếu nại của công dân là việc của chính quyền các cấp. Để những người nước ngoài lợi dụng việc đó mà ban ơn, bố thí thì không thể chấp nhận được”. Chính quyền là của mình, là của nhân dân, theo Hòa thượng, giải quyết việc này, cần kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, đoàn thể, mặt trận tổ quốc các cấp, tạo ra sự hòa hợp dân tộc yên bình, để chung tay cùng nhau xây dựng đất nước…

Hòa thượng Thích Trí Quảng còn cho biết, Thích Quảng Độ không có tên trong danh sách sinh hoạt giới phật tử ở Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh. Ông ta tự xưng là “Viện trưởng Viện Hóa đạo của Giáo hội Việt Nam thống nhất”, nhưng thực ra, cái tên GHPGVNTN được gọi từ năm 1964 do 11 tổ chức hệ phái phật giáo ở miền Nam Việt Nam cùng thống nhất đặt tên với mục tiêu đứng lên đấu tranh chống lại chế độ Ngô Đình Diệm. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, GHPGVNTN coi như hoàn thành sứ mạng của mình. Từ sau ngày đất nước hòa bình thống nhất (1975) đến năm 1981, chính Hòa thượng Thích Trí Thủ, nguyên Viện trưởng Viện Hóa đạo khi ấy (đã viên tịch), là một trong những người đứng ra vận động các tổ chức Phật giáo toàn quốc để thành lập một tổ chức chung cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam và thể theo nguyện vọng của giới tăng ni, phật tử cả nước. Được sự đồng ý của Nhà nước, cuối năm 1981, 9 tổ chức hệ phái phật giáo tiêu biểu trong cả nước đã tiến hành Đại hội Phật giáo toàn quốc, thành lập nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay.

Còn Thích Quảng Độ, thời gian ấy làm gì, ở đâu? Theo Hòa thượng Thích Trí Quảng, thời điểm năm 1975, Thích Quảng Độ đang du học ở nước ngoài và cũng chính trong thời gian này, ông ta mạo nhận là Viện trưởng Viện Hóa đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (thực ra không còn tồn tại). Theo cơ quan chức năng, sau hai lần bị bắt giam (vì những hành vi chống phá khối đại đoàn kết dân tộc), được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước, rồi được miễn chấp hành hình phạt quản chế, những hoạt động tôn giáo của Thích Quảng Độ trong thời gian gần đây không những là bất hợp pháp mà còn đi ngược lại với những cam kết của ông ta: “Sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự liên hệ cũng như hành động mà có thể dẫn đến vi phạm luật pháp của Nhà nước”.

Nhưng, “ngựa quen đường cũ”, ngay sau khi về Thành phố Hồ Chí Minh, Thích Quảng Độ đã công khai thách thức chống chính quyền và pháp luật, kêu gọi phục hồi “GHPGVNTN”; cầm đầu, chỉ đạo số tay chân liên tục tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước; trực tiếp liên lạc, trao đổi, cung cấp tài liệu thông tin ra ngoài vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo. Trong lần cùng UBND quận Phú Nhuận làm việc với Thích Quảng Độ, ông Nguyễn Ngọc San, Trưởng ban tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh và đại diện chính quyền các cấp đã nêu lên những sai trái với việc tự mạo nhận là Viện trưởng Viện Hóa đạo để in ấn, phát tán các tài liệu xuyên tạc tình hình tôn giáo, gây chia rẽ sự đoàn kết Phật giáo Việt Nam. Thích Quảng Độ đã ký nhận việc chấm dứt tán phát tài liệu dưới bất kỳ hình thức và danh nghĩa nào của “GHPGVNTN”. Ngày 18-6-2003, Hòa thượng Thích Trí Quảng, Trưởng ban Trị sự thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh Giáo Hội Phật giáo Việt Nam đã có công văn số 214 gửi lên Chủ tịch nước xin cho Thích Quảng Độ kết thúc thời hạn quản chế trước thời gian quy định do tuổi già sức yếu.

Như vậy, Nhà nước ta và cả Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nhiều lần khoan hồng và mong y trở về con đường tu nhân tích đức, nhưng trái với lòng từ bi của người tu hành, y ngày càng dấn sâu vào con đường phản dân hại nước, trái với đạo lý của người tu hành, đi ngược với đạo lý của dân tộc.

Bài và ảnh: TRUNG DŨNG CƯỜNG