Khai thác hiệu quả nguồn lực khoa học
Quan điểm đó đặt ra yêu cầu phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu, đầu tư và ứng dụng công nghệ; đồng thời tăng cường kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học để khai thác hiệu quả nguồn lực khoa học, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển sản phẩm mới.
Cùng với đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết nhà trường - doanh nghiệp, tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là đào tạo kỹ năng nghề trong các lĩnh vực công nghệ cao. Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu hỗ trợ triển khai hiệu quả hợp tác Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp.
 |
| Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ tham quan các gian hàng tại Lễ kỷ niệm hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026. Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ |
Từ những định hướng này, liên kết “3 nhà” không chỉ nhằm tăng cường phối hợp giữa các tổ chức mà còn hướng đến sử dụng hiệu quả nguồn lực, gắn hoạt động nghiên cứu, đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo cơ chế, chính sách; viện nghiên cứu, trường đại học phát huy năng lực nghiên cứu, đào tạo; doanh nghiệp tham gia đặt hàng, đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa kết quả.
Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố tại hội thảo tháng 7-2026, chỉ khoảng 3,9% doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Ngay cả trong nhóm doanh nghiệp vừa và lớn, tỷ lệ này cũng chỉ đạt khoảng 5,1%; tỷ lệ doanh nghiệp hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu cũng ở mức tương tự.
Thực tế này cho thấy dư địa thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu, phát triển và tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp với các tổ chức khoa học còn lớn. Để khai thác dư địa đó, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu, đồng thời khuyến khích viện nghiên cứu, trường đại học chủ động kết nối với doanh nghiệp, xác định bài toán công nghệ từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Sắp tới, Bộ KH&CN sẽ phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN.
Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.
Tại hội nghị, lãnh đạo Bộ KH&CN sẽ trình bày báo cáo về thực trạng, những điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN. Các đại biểu sẽ trao đổi về khó khăn trong quá trình hợp tác, đề xuất giải pháp tăng cường gắn kết hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của sản xuất, kinh doanh.
Đại diện UBND TP Hà Nội, UBND TP Hồ Chí Minh, Tập đoàn Viettel, Viện Dầu khí Việt Nam... chia sẻ kinh nghiệm, mô hình liên kết trong phát triển công nghệ, nâng cao giá trị nông sản, thương mại hóa dược liệu và đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Những kinh nghiệm thực tiễn này sẽ góp phần làm rõ cách thức kết nối năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ của viện, trường với nguồn lực đầu tư, năng lực tổ chức sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.
Phiên trao đổi, giải đáp tại hội nghị tập trung vào 5 nhóm vấn đề: Doanh nghiệp tham gia xác định và đặt hàng nhiệm vụ KH&CN; cơ chế Nhà nước và doanh nghiệp cùng đầu tư, chia sẻ rủi ro; kết nối doanh nghiệp với viện, trường và tổ chức nghiên cứu phù hợp; sở hữu trí tuệ, tài sản, quyền và lợi ích của các bên; đưa kết quả nghiên cứu thành công nghệ, sản phẩm và ra thị trường.
Đây là những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có giá trị thương mại. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu, đặt hàng nghiên cứu đến thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và phát triển sản phẩm. Trong khi đó, viện nghiên cứu, trường đại học cần chủ động kết nối với doanh nghiệp để định hướng nghiên cứu sát thực tiễn, nâng cao khả năng ứng dụng của các công trình khoa học.
Cùng với đó, cơ chế đầu tư, chia sẻ rủi ro và phân định quyền sở hữu trí tuệ, tài sản, lợi ích giữa các bên cần được làm rõ. Các cơ chế hợp tác cũng cần tính đến đặc thù từng lĩnh vực, khả năng ứng dụng của công nghệ và mức độ rủi ro trong quá trình phát triển sản phẩm, qua đó tạo động lực để doanh nghiệp chủ động đầu tư nghiên cứu, phát triển và tiếp nhận công nghệ.
Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam tiếp tục được cải thiện
Theo Bộ KH&CN, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) vừa công bố Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 cho thấy, chỉ số GII của Việt Nam tiếp tục được cải thiện, đạt mục tiêu Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026.
Theo kết quả GII 2026, Việt Nam đứng thứ 43/139 quốc gia, nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025. Tính từ năm 2016 đến nay, thứ hạng GII của Việt Nam đã tăng từ vị trí 59 lên 43, cải thiện 16 bậc. Đáng chú ý, thứ hạng đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng 2 bậc, từ vị trí 37 lên 35. Đây là yếu tố góp phần đưa thứ hạng chung của Việt Nam tăng 1 bậc trong năm nay.
Việt Nam tiếp tục đứng thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp, sau Ấn Độ (xếp hạng 38). Trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, Trung Quốc xếp thứ 10 và Malaysia xếp thứ 34, trong khi phần lớn các quốc gia xếp trên Việt Nam thuộc nhóm thu nhập cao.
Tại ASEAN, Việt Nam tiếp tục đứng thứ 3, sau Singapore và Malaysia, vượt Thái Lan và đạt mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2026.
WIPO cũng ghi nhận Việt Nam là một trong 7 quốc gia thu nhập trung bình có tốc độ cải thiện thứ hạng nhanh nhất kể từ năm 2013, cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Morocco và Indonesia.
Đáng chú ý, Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 3 quốc gia có thành tích đổi mới sáng tạo vượt trội so với mức độ phát triển, cùng Trung Quốc và Ấn Độ. Trong 16 năm liên tiếp, kết quả đổi mới sáng tạo của Việt Nam được đánh giá cao hơn mức độ phát triển, cho thấy khả năng chuyển hóa các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo...
Bộ KH&CN cho biết, thời gian tới cần tiếp tục phát huy những thế mạnh và kết quả đã đạt được, đồng thời tập trung khắc phục các điểm nghẽn về thể chế, giáo dục đại học, hạ tầng công nghệ thông tin, nguồn nhân lực có kiến thức trong doanh nghiệp và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Trọng tâm là nâng cao chất lượng đầu ra tri thức, công nghệ; thúc đẩy doanh nghiệp làm chủ công nghệ, chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, qua đó nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.