Trước đây, giới yêu thích lữ hành đánh giá Làng văn hóa là điểm đến không thực sự thu hút và chưa khai thác được hết tiềm năng. Tuy nhiên, những năm gần đây, Làng văn hóa đã tích cực thay đổi, đầu tư cải tạo không gian, tăng cường nhiều hoạt động trải nghiệm để trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách.

Cứ mỗi dịp cuối tuần, tuyến xe buýt 107 xuất phát từ trung tâm TP Hà Nội tới Làng văn hóa lại đông vui, tấp nập. Làng văn hóa có tổng diện tích 1.544ha, thuộc các huyện Thạch Thất, Ba Vì và thị xã Sơn Tây (Hà Nội). Nơi đây, giờ đã trở thành điểm đến không thể thiếu trong lịch trình tour một ngày tham quan ngoại thành Hà Nội của các công ty du lịch, đơn vị lữ hành, trong đó đông nhất là học sinh, sinh viên tham gia các chương trình trải nghiệm thực tế, tìm hiểu văn hóa kết hợp dã ngoại. Tới mỗi ngôi làng, du khách được giới thiệu về nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc, như: Hệ thống nhà rông, nhà sàn, phong tục tập quán ma chay, cưới hỏi, các nghi lễ tôn giáo, các trang phục đặc trưng của mỗi dân tộc... Với những không gian rộng rãi, du khách được tham quan, chiêm ngưỡng phong cảnh thiên nhiên, tham gia các hoạt động dã ngoại, tổ chức chương trình vui chơi lý thú, phù hợp với lứa tuổi.

leftcenterrightdel
Đồng bào dân tộc Ba Na biểu diễn điệu múa trong lễ “Đóng cửa kho” phục vụ du khách tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. 

Ngay khi bước chân đến cổng Làng văn hóa, chúng tôi đã có cảm giác đây là ngôi nhà chung của 54 dân tộc anh em. Bởi cổng chào được thiết kế khá đặc biệt với hình dáng số 54, đại diện cho cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Hiện tại, có 14 dân tộc đang sinh sống và hoạt động hằng ngày tại làng. Là người dân tộc Ba Na, gắn bó với Làng văn hóa từ khá lâu, ông Đinh Tinh, quê ở xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã đưa cả vợ và con trai út ra sinh sống tại làng. Ban ngày, ông cùng mọi người trong nhóm dân tộc Ba Na biểu diễn dân vũ, cồng chiêng giới thiệu với du khách loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Buổi tối, cả gia đình lại quây quần chuẩn bị sợi dệt, mây tre đan để hôm sau bán cho du khách mua về làm quà. Ông Đinh Tinh cho biết: “Tôi rất vui khi được mời ra Thủ đô để sinh hoạt và giới thiệu các phong tục tập quán của quê hương mình đến với du khách trong và ngoài nước. Giờ đây, mọi người không cần phải vào Gia Lai mới có thể nhìn thấy nhà rông, mới được xem múa cồng chiêng, thưởng thức ẩm thực địa phương, mà chỉ cần đến Làng văn hóa".

Nghệ nhân Nguyễn Thị Xuyến, dân tộc Tày ở xã Yên Phong, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thì cho rằng, các nghệ nhân đến với làng đều coi đây như ngôi nhà thứ hai của mình. Mọi người cùng có ý thức vun vén, xây dựng, tạo cảm giác gần gũi cho du khách khi đến tham quan. Nghệ nhân Nguyễn Thị Xuyến chia sẻ: "Tôi rất muốn gắn bó lâu dài với Làng văn hóa. Bởi lẽ ở đây không những bảo tồn được các loại hình nghệ thuật truyền thống tưởng như thất truyền của dân tộc mình, mà còn đưa không gian văn hóa Tày trở thành nơi thu hút du khách đến với ngôi nhà chung".

Mặc dù Làng văn hóa là điểm du lịch hấp dẫn và ý nghĩa, có những nét đặc trưng về văn hóa các dân tộc Việt Nam, nhưng để nói về hiệu quả ở mặt du lịch thì câu trả lời của nhiều người là chưa thật sự hiệu quả. Nơi đây có ưu điểm tập trung nhiều nền văn hóa đa dạng, kiến trúc độc đáo, phù hợp với du khách, đặc biệt là khách quốc tế đến khám phá và tìm hiểu. Tuy nhiên, cơ sở vật chất của làng đang dần xuống cấp, không được tu sửa đều đặn. Ông Trịnh Ngọc Chung, Quyền Trưởng ban quản lý Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam cho biết: “Tất cả công trình trong Làng văn hóa khi thi công đều có đầy đủ hồ sơ là làm theo nhà nào, ở làng nào, xã nào, là phiên bản 1:1 kể cả chất liệu chứ không chỉ là mô phỏng các công trình bằng một chất liệu bền vững khác. Chính vì vậy, các công trình này rất dễ xuống cấp và nếu không có hình thức bảo trì, bảo dưỡng hằng năm thì sẽ hư hỏng”.

Những năm gần đây, có một số đơn vị đầu tư các dịch vụ tại làng và các nguồn từ xã hội hóa như dịch vụ xe điện, khu ẩm thực, hướng dẫn tour cho du khách... tạo sự chuyển biến trong việc tăng cường các hoạt động dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của du khách tham quan. Nhiều tập đoàn lớn, các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm đã đến nghiên cứu, khảo sát để lập dự án đầu tư vào các khu chức năng của làng. Ông Trịnh Ngọc Chung chia sẻ: “Hiện nay mỗi năm, Làng văn hóa đón hàng trăm nghìn lượt khách. Chỉ riêng trong ngày Tết Dương lịch 2021, đã có 10.000 lượt khách đến tham quan. Tiềm năng ai cũng nhìn thấy, quan trọng là chúng ta cần tạo một cơ chế đặc thù để kêu gọi đầu tư các dịch vụ đi kèm như khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi, giải trí. Thực tế thủ tục để kêu gọi đầu tư, xã hội hóa lại chưa có nên rất bất cập. Ví dụ, không có chế độ ưu đãi cho các nhà đầu tư như việc miễn, giảm, ưu đãi về thuế đất, giống các khu công nghiệp. Đầu tư về văn hóa, người ta tính bằng cả một thế hệ chứ không thể nào tính lời theo năm, theo tháng được. Do đó, để thu hút được nhà đầu tư thì phải có cơ chế ưu đãi để họ yên tâm”.

Đã đến lúc cần thay đổi tư duy làm văn hóa, tiếp cận ở quan điểm bảo tồn với phát triển mà vẫn giữ được giá trị gốc. Phải đưa dịch vụ vào để tăng ngân sách thì mới có nguồn bảo đảm cho việc bảo dưỡng các hạng mục. Thực chất đưa các dịch vụ khác vào làng là để bù đắp cho việc bảo tồn, phát huy giá trị của Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh: HUYỀN TRANG - ĐỨC THỊNH