Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến chủ trì phiên giải trình. Tham dự phiên giải trình có các đại biểu Quốc hội, lãnh đạo các bộ, ngành có liên quan. Tại phiên giải trình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cùng lãnh đạo Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã báo cáo làm rõ và trực tiếp trả lời các câu hỏi của các đại biểu.
Nhiều ý kiến đánh giá, qua 5 năm thực hiện, Nghị định 116 là chính sách mang tính nhân văn sâu sắc, từng bước cụ thể hóa chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước đối với việc phát triển nguồn nhân lực nói riêng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội các vùng đặc biệt khó khăn nói chung, trong đó chủ yếu thuộc địa bàn hơn 2.000 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, bãi ngang ven biển. Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách đã góp phần thu hút hàng ngàn cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đến công tác ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn ở các địa phương, từng bước khắc phục tình trạng thiếu cán bộ kéo dài trong nhiều năm ở nhiều nơi, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác điều động, luân chuyển và bố trí cán bộ của cấp ủy chính quyền của những vùng này. Việc thực hiện chính sách góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho hàng chục vạn đối tượng hưởng lương tại vùng đặc biệt khó khăn; đã khích lệ, động viên kịp thời cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác lâu dài.
Theo báo cáo tổng hợp của 43 tỉnh gửi về Hội đồng Dân tộc và Bộ Nội vụ, giai đoạn từ 2011-2015, tổng số đối tượng được hưởng chính sách theo Nghị định 116 là trên 1.616 nghìn lượt người với tổng mức kinh phí thực hiện hơn 24.800 tỷ đồng.
Tuy nhiên, tại phiên họp, Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Nguyễn Lâm Thành nhấn mạnh, trong quá trình thực hiện Nghị định 116 cũng nảy sinh nhiều vấn đề còn tồn tại, hạn chế, đặc biệt là sự thiếu tính thống nhất về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của nghị định. Đối tượng thụ hưởng theo Nghị định 116 cũng bao trùm nhiều đối tượng đã được thụ hưởng các chính sách ưu đãi trước đó, nhưng không bãi bỏ hoặc có hướng dẫn cụ thể để bảo đảm sự thống nhất như: Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20-6-2006 của Chính phủ về Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện khó khăn; Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày 30-7-2009 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, viên chức ngành y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số văn bản khác. Điều này dẫn đến việc chi trả ở các địa phương không thống nhất, có nơi bị trùng lặp, mức hưởng cao. Ngoài ra còn tồn tại thực trạng trợ cấp thu hút cán bộ, công chức chỉ tập trung cho một số ít đối tượng và một số đối tượng đồng thời cũng hưởng nhiều chính sách như phụ cấp ngành, phụ cấp địa bàn, phụ cấp từ Nghị định 116... dẫn đến tình trạng không công bằng về chế độ chính sách.
Giải trình trước ý kiến của một số đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân khẳng định, Nghị định 116 là nghị định có tính chất nhân văn, vì đó là những khu vực đặc biệt khó khăn, đa số nhân dân rất nghèo, thuộc vùng đồng bào dân tộc, rất cần ưu đãi, thu hút cán bộ để phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân cũng thẳng thắn thừa nhận, trước khi ban hành Nghị định 116, đã có rất nhiều chính sách ưu đãi dành cho khu vực này. “Lỗi là chưa tổng hợp chính sách khi xây dựng được chính sách trong Nghị định 116 để tránh trùng lặp với các chính sách trước đây”, Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân nói.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân trả lời câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội. Ảnh: TTXVN.
Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân cho rằng nên tổng hợp để ban hành Nghị định mới hợp nhất các văn bản quy định chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đang công tác tại các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn từ các chính sách theo Nghị định 116, Nghị định 64, Nghị định 61... theo hướng quy định rõ ràng, hợp lý về đối tượng, địa bàn, định mức thụ hưởng. Việc ban hành văn bản thống nhất sẽ tránh việc triển khai chính sách chồng chéo, bất cập, chi sai đối tượng, địa bàn.
Ngoài ra, tại phiên giải trình, một số đại biểu cũng đặt vấn đề về trách nhiệm của Bộ Nội vụ - cơ quan chủ trì và cùng Bộ Tài chính về việc tuyên truyền, hướng dẫn thi hành Nghị định 116 dẫn đến thực hiện chính sách không thống nhất. Về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, hiện có tới 3 văn bản của Chính phủ quy định về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, Bộ đề nghị Chính phủ tổng kết và chỉ ban hành một Nghị định mới thay thế theo hướng thống nhất chính sách. Bộ Nội vụ cũng đề nghị Chính phủ giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; hoặc xin ý kiến Chính phủ không áp dụng đối với cán bộ công chức, viên chức công tác tại các xã không phải là đặc biệt khó khăn thuộc các huyện nghèo…Về các chính sách chi trả sai, Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân cho biết, các bộ, ngành sẽ phối hợp rà soát và sẽ kiên quyết thu hồi các trường hợp sai quy định.
Các đại biểu đề xuất cần xây dựng các tiêu chí phù hợp, đồng thời tiến hành rà soát đưa ra khỏi diện địa bàn thụ hưởng chính sách những nơi không còn thực sự cần được hưởng chính sách ưu đãi về thu hút cán bộ để bảo đảm tính hợp lý, công bằng cũng như tiết kiệm ngân sách của Nhà nước. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, thanh tra cần được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện những bất cập, vướng mắc, bất hợp lý trong quá trình triển khai thực hiện chính sách để kịp thời đề xuất điều chỉnh, sửa đổi phù hợp, nâng cao hiệu quả chính sách.
THẢO NGUYÊN