Bình đẳng giới luôn là mục tiêu

Với bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam), vấn đề bình đẳng giới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt coi trọng, được nêu ra trong rất nhiều văn bản quan trọng. Vì thế, khi bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được ban hành, vấn đề bình đẳng giới đã được trịnh trọng ghi nhận như một nguyên tắc tiên quyết, bất di bất dịch trong thực hiện dân chủ, xây dựng chính quyền nhân dân. Kể từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước liên tục ban hành và thực thi nhiều chính sách thúc đẩy nữ quyền, đưa nữ giới bình đẳng với nam giới về mọi mặt trong đời sống gia đình, xã hội và chính trị. 

Đặc biệt, từ năm 2006, khi Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới, vấn đề thực hiện chính sách bình đẳng giới được nâng lên tầm cao mới, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy nữ quyền mạnh mẽ hơn. Quốc hội sau đó tiếp tục ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 với định hướng quan trọng cho việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đến nay, trong mọi dự án luật, pháp lệnh đều có đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nhờ vậy, việc thực hiện công tác bình đẳng giới ở nước ta đạt được nhiều kết quả nổi bật. Nhất là việc lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có nữ Chủ tịch Quốc hội; hiện tỷ lệ phụ nữ trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, tỉnh ủy, thành ủy viên hay đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND đều tăng, được nhân dân ghi nhận và được bè bạn quốc tế đánh giá rất cao. Nhiều đoàn khách quốc tế tới thăm, làm việc ở Việt Nam đã đặt vấn đề muốn tham khảo kinh nghiệm thúc đẩy nữ quyền của nước ta.

leftcenterrightdel
Hoạt động của nữ đại biểu Quốc hội tại Quốc hội khóa XIV. Ảnh: TRỌNG ĐỨC 
Để đánh giá một cách toàn diện về công tác thực hiện bình đẳng giới ở nước ta, chiều 13-9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã xem xét việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, nghe đại diện Chính phủ trình bày và thảo luận rất sôi nổi về vấn đề này.

Theo báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung trình bày, triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới, năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 với 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể. Với nỗ lực của các cấp, các ngành, công tác bình đẳng giới nói chung, thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 nói riêng đạt được nhiều kết quả nổi bật. Tuy nhiên, điều khiến nhiều người trăn trở là trong tổng số 22 chỉ tiêu của chiến lược đề ra chỉ có 6 chỉ tiêu đạt (chiếm 27,3%), có đến 16 chỉ tiêu chưa đạt hoặc chưa đánh giá được (chiếm 72,7%); trong đó 3 chỉ tiêu không có khả năng thu thập thông tin, 11 chỉ tiêu phân tổ chưa phù hợp với hệ thống thống kê số liệu hiện hành.

Chưa đạt mục tiêu tăng cán bộ lãnh đạo nữ

Mục tiêu đầu tiên mà Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đưa ra là “tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị”. Trong mục tiêu này có 3 chỉ tiêu cụ thể, nhưng đến nay đều chưa đạt hoặc chưa thể đánh giá được.

Chỉ tiêu thứ nhất là phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2015-2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên 35%. Kết quả tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tại cả 3 cấp (cơ sở, huyện, tỉnh) dẫu tăng hơn nhiệm kỳ trước nhưng đều không đạt tỷ lệ 25% đề ra. Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 cũng chưa đạt chỉ tiêu so với chiến lược đề ra.

Chỉ tiêu thứ hai là phấn đấu đến năm 2020 đạt 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 8-2017 chỉ có 11/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt, đạt tỷ lệ 40%; cấp tỉnh chỉ có 16/63 địa phương có nữ lãnh đạo chủ chốt, chiếm 25,39%...

Chỉ tiêu thứ ba là phấn đấu đến năm 2020 đạt 70% cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên là nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Tuy nhiên, đại diện Chính phủ nói, việc thu thập số liệu chỉ tiêu này hiện đang gặp nhiều khó khăn nên chưa có số liệu thống kê, hiện nay chưa có đủ cơ sở để đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu này.

80% nữ công nhân bị sa thải vì quá 35 tuổi

Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến ngày 1-7-2017, lực lượng lao động (LĐ) từ 15 tuổi trở lên ước tính khoảng 54,5 triệu người, trong đó LĐ nam 28,3 triệu người, chiếm 52%; LĐ nữ 26,2 triệu người, chiếm 48%. Trong năm 2016, đã triển khai giải quyết việc làm cho khoảng 1,641 triệu LĐ (tăng 0,98% và 2,5% so với cùng kỳ năm 2015 và 2014), trong đó LĐ nữ chiếm khoảng 48%. Với kết quả này, việc thực hiện mục tiêu “giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, LĐ, việc làm; tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường LĐ” mà chiến lược đặt ra cho đến nay đều được đánh giá đạt yêu cầu. Tuy nhiên, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung dẫn đánh giá của Chính phủ cho rằng, chất lượng việc làm của LĐ nữ còn chưa ổn định và thiếu bền vững, có mức lương trung bình thấp hơn LĐ nam (4,58 triệu đồng so với 5,19 triệu đồng/tháng).

Điều đáng nói là tình trạng sa thải LĐ độ tuổi 35 trở lên, trong đó phần lớn là LĐ nữ, đang là vấn đề lớn đáng báo động cho thị thường LĐ hiện nay. Kết quả khảo sát cho thấy, có nơi có tới 80% phụ nữ trên 35 tuổi làm việc trong các khu công nghiệp bị buộc phải nghỉ việc hoặc tự bỏ việc do cơ cấu lại sản xuất hoặc do không chịu được điều kiện làm việc khắc nghiệt. “Chính phủ đang chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, xem xét để sớm có những giải pháp và can thiệp để bảo vệ quyền lợi của người LĐ, đặc biệt là LĐ nữ”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết.

Việc có tới 80% LĐ nữ trên 35 tuổi làm việc trong các khu công nghiệp bị buộc thôi việc hoặc tự bỏ việc khiến nhiều Ủy viên UBTVQH rất trăn trở. Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh cho rằng đây là vấn đề nhức nhối, đáng báo động, cần có giải pháp kịp thời. Cùng với việc nhiều mục tiêu bình đẳng giới chưa đạt được, bà Nguyễn Thúy Anh đề nghị, ít nhất mỗi nhiệm kỳ một lần, Quốc hội cần thảo luận về vấn đề này, qua đó giám sát thường xuyên hơn việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

Trưởng ban Dân nguyện của UBTVQH Nguyễn Thanh Hải cho rằng, nguyên nhân của tình trạng này là do các chủ sử dụng lao động tại các khu công nghiệp muốn sử dụng LĐ trẻ, ít thâm niên để không phải trả lương cao, đồng thời tận dụng được sức LĐ cường độ cao theo kiểu “vắt chanh bỏ vỏ”. Trong khi đó, quy định của pháp luật về vấn đề này chưa rõ ràng; công tác thanh tra, kiểm tra lại kém hiệu quả, không phát hiện và xử lý kịp thời để bảo vệ người LĐ.

Có thể thấy, nhiệm vụ thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới vẫn còn nhiều gian nan. Tuy nhiên, với sự vào cuộc của Quốc hội và Chính phủ, hy vọng công tác bình đẳng giới tại Việt Nam sẽ thành công; phụ nữ Việt Nam sẽ sánh ngang với nam giới trên nhiều phương diện…

CHIẾN THẮNG