“Tiếng hát” ở đây không chỉ là tiếng hát mà là nghệ thuật nói chung, đặc biệt là nghệ thuật thơ ca, “ca” nghĩa từ nguyên là “hát”, không ngẫu nhiên sau này nhiều bài thơ được phổ nhạc thành “bài hát”. Chuyện rằng, chàng Trương Chi rất nghèo và rất xấu nhưng đổi lại có tiếng hát cực hay, hay đến mức nàng Mỵ Nương con nhà quan sang trọng giàu có phải lòng, si mê đến quên ăn quên ngủ và muốn yêu bằng được người hát. Nhưng khi bắt gặp “dung nhan” chàng thì nàng bàng hoàng, thất vọng và không thể yêu chàng được nữa. Oái ăm thay, được gặp bậc giai nhân tuyệt sắc, Trương Chi sửng sốt, tiếng sét ái tình đã đánh vào trái tim chàng. Thế là từ đấy tiếng hát chàng đã hay lại càng hay hơn. Chàng thề không được yêu nàng thì sẽ chết. Dĩ nhiên nàng không đáp lại, chàng đành gửi tâm trạng bi kịch tình yêu vào tiếng hát bi ai da diết đầy đau khổ trước khi nhảy xuống sông tự vẫn… Câu chuyện bật ra một triết lý: Nghệ thuật phải thực sự hay mới đi vào lòng người (tiếng hát Trương Chi hay mới làm Mỵ Nương si mê); tác phẩm nghệ thuật là sản phẩm tinh thần của bi kịch, của bao đau đớn giằng xé, của tình yêu thật sự (tiếng hát chàng Trương Chi đã hay lại càng hay hơn khi gặp rồi yêu và bị từ chối tình yêu)…

Cùng với chủ đề này truyện Thạch Sanh cũng triết lý sâu sắc về sức mạnh chinh phục của nghệ thuật. Tiếng đàn Thạch Sanh có khả năng thấu hiểu hoàn cảnh, thấu cảm lòng người, minh oan và khẳng định sự thật: “Đàn kêu tích tịch tình tang/Ai đem công chúa dưới hang trở về”, làm cho công chúa đang bị câm trở lại biết nói cười. Đặc biệt, nghệ thuật còn có khả năng cảm hóa, lôi kéo, thức tỉnh: Quân chư hầu nghe tiếng đàn Thạch Sanh liền lăn quay ra ngủ, rồi xin hàng… 

Như vậy, cha ông ta đã cực kỳ thâm thúy, trí tuệ khi sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật nói về quyền năng của nghệ thuật đích thực, qua đó gián tiếp muốn nói rằng: Chỉ có nghệ thuật thực sự nghệ thuật mới có giá trị, mới đáng được đề cao, trân trọng. Nghệ thuật ngày trước thường được hiểu theo nghĩa hẹp là thơ ca, vì thơ là thể loại ra đời sớm nhất (có nhà ngôn ngữ cực đoan cho rằng, thơ ra đời trước cả ngôn ngữ), mang tính phổ cập cộng đồng (ai cũng có thể làm thơ, ngâm thơ, hiểu thơ…), mang chức năng giáo dục, giải trí, nhận thức rất rõ. Đồng thời thơ cũng thể hiện tập trung những nét đặc sắc của các loại hình nghệ thuật gần gũi: Trong thơ có họa (thi trung hữu họa), có nhạc (thi trung hữu nhạc), trong truyện ngắn, tiểu thuyết có thơ (chất thơ trong văn xuôi)… Cho nên có người nói có lý rằng, bản sắc văn hóa Việt thể hiện tinh tế trong thơ Việt.

Phải chăng những triết lý trên đã ảnh hưởng tới nếp sống: Nước ta có rất nhiều người làm thơ, say thơ, mê thơ. Cũng chiểu theo triết lý này thì chúng ta không sợ có nhiều thơ mà chỉ sợ ít có thơ hay. Vì lẽ này ngày Rằm tháng Giêng nên được gọi là Ngày Thơ hơn là Hội Thơ, vì “hội” gợi nhiều hơn về sự vui vẻ (vui như hội). Và Ngày Thơ không chỉ là sự tôn vinh thơ mà còn là sự cắt nghĩa cội nguồn, khẳng định giá trị, dĩ nhiên của thơ thực sự hay. Dưới góc nhìn văn hóa học liên ngành thì thơ lan tỏa và thấm đẫm vào các thể loại, ngoài các loại hình gần gũi còn là kiến trúc, điêu khắc, múa, điện ảnh… Do vậy, Ngày Thơ không nên đơn điệu chỉ có thơ mà cần có sự tham gia của nhiều loại hình nghệ thuật liên đới khác.

NGUYỄN THANH