Theo thể lệ ban tổ chức đưa ra, cuộc thi này không giới hạn đề tài, dành cho tất cả người Việt Nam trong và ngoài nước. Đây chính là một cơ hội, một diễn đàn để những người yêu thơ, có khả năng sáng tác được công bố những tác phẩm của mình.

Hội đồng chung khảo cuộc thi gồm: Nhà văn Nguyễn Bình Phương, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Thanh Thảo, nhà văn Đỗ Bích Thúy, nhà văn Phùng Văn Khai đã trao giải nhất cho nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm với chùm tác phẩm: “Nhận hoa”, “Đối thoại ở rừng”, “Xin về nhận lại”. Giải nhì được trao cho hai tác giả: Nguyễn Thị Thùy Linh (“Khi anh yêu em”, “La La bé bỏng”, “Mở cửa ngục”, “Những tiếng chuông điền dã”); Nguyễn Quang Hưng (“Cát vọng phu”, “Thư Phan Vinh”, “Ý nghĩ lưng trời”, “Lời chào”). Giải ba được trao cho ba tác giả: Đông Triều (“Trong ống khói con tàu”, “Cửa rừng”, “Nói chuyện ở Trường Sơn”, “Trôi theo Parasailing”), Trương Nam Chi (“Mẹ tôi”, “Cho con nằm lại”, “Ví dầu”), Miên Di (“Vợ đi lấy chồng”, “Tháng bảy này”).

Có thể nói, dù không giới hạn đề tài nhưng những tác phẩm dự thi trên Văn nghệ Quân đội năm qua đã tập trung vào mảng đề tài thế sự, quân đội, lịch sử, chiến tranh, những giá trị truyền thống và những đổi thay đi lên của đất nước trong thời kỳ mới. Những tác phẩm thơ góp mặt trong cuộc thi, bên cạnh việc ngợi ca vinh quang của đất nước, cũng nhắc nhớ về những hy sinh mất mát của dân tộc, của gia đình, cá nhân (những người mẹ, người vợ, người con…) trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Từ những bài thơ trên Văn nghệ Quân đội, những ghi nhận, tri ân, đáp đền cũng được biểu lộ. Đó là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” quý báu của dân tộc ta. Từ những tác phẩm gửi về đến những tác phẩm đoạt giải-như đã nêu, có thể nhận thấy sức sống mạnh mẽ của dòng cảm hứng này trong thơ trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội nói riêng và thơ Việt đương đại nói chung.

Bên cạnh dòng cảm hứng lãng mạn sử thi-có thể được xem là cảm hứng chủ đạo, thơ dự thi trên Văn nghệ Quân đội còn thể hiện những mạch nguồn cảm xúc khác về các đề tài thế sự-đời tư: Hôn nhân, gia đình, tình yêu đôi lứa, về cuộc sống với bao ngổn ngang, bề bộn hôm nay... Có thể điểm đến những sáng tác của Miên Di (“Vợ đi lấy chồng”, “Tháng bảy này”, “Bạn”), Phan Tuấn Anh (“Đoản khúc số 128”), Nguyễn Thị Thùy Linh (“La La bé bỏng”), Kai Hoàng (“Có gì trong thành phố”), Nguyễn Nhật Hùng (“Đoản khúc cho ngày”)… Cũng nhận ra những sáng tác mang phong vị của văn hóa các vùng miền, dân tộc thiểu số: Phùng Thị Hương Ly (“Gọi mãi câu thương”), Tạ Bá Hương (“Câu hát của núi”)… Đây là những sáng tác cho thấy hơi thở đương đại và tâm thế của con người trước những diễn biến đa chiều của cuộc sống hôm nay.

Cuộc thi đã kết thúc, những giải thưởng đã tìm được chủ nhân. Điều cần phải nhấn mạnh ngay ở đây là giải thưởng đôi khi không phản ánh hết giá trị hay những thành tựu mà cuộc thi thơ này thực sự có được. Một cách khách quan, giải thưởng phải đáp ứng các tiêu chí mà ban tổ chức đề ra, đồng thời đã ngầm bày tỏ quan niệm, thang bậc hay thước đo giá trị mà đơn vị tổ chức đã xác lập từ trước. Có thể, những căn cứ trao giải không hoàn toàn áp dụng hay thỏa đáng cho tất cả sáng tác. Tuy thế, đọc những tác phẩm được giải, trong tổng thể những tác phẩm được chọn in trên tạp chí trong năm qua, người đọc cũng nhận thấy cái được và cái còn thiếu hay bỏ sót của giải thưởng. Đó cũng là lẽ thường. Như một minh chứng cụ thể, giải nhất trao cho Nguyễn Minh Khiêm đã nói lên căn cứ tối cao trong việc lựa chọn của hội đồng chung khảo (về tư tưởng, chủ đề, cảm hứng, thi pháp…). Mặt khác, trên tinh thần của những khác biệt về hướng tiếp cận, giải thưởng cũng chỉ mang tính tương đối.

Vấn đề còn lại sau cuộc thi chính là những tác giả tham dự, những người đã đoạt giải, dự phóng phía trước của họ là gì? Cuộc thi, thực chất chỉ là một lần kiểm kê lực lượng sáng tác của thể loại này trong đời sống văn học đương đại. Con đường nghệ thuật không phải đã dừng lại nơi các giải thưởng. Sau đó, người ta có quyền tin tưởng hơn vào những hướng sáng tạo mới trên đà của một cuộc thi. Được giải hay không, kể cũng có chút vui buồn, nhưng cũng không nên quá nệ vào giải thưởng. Miên Di sẽ đi xa hơn với sự thông minh chữ nghĩa, tư duy linh hoạt cùng hơi thở đương đại. Anh đặc biệt nhạy cảm với phần gai góc, tan vỡ, phi lý và nhọc nhằn của đời. Kai Hoàng, Nguyễn Nhật Hùng, Nguyễn Thị Thùy Linh và một số người trẻ khác đang có được những tiền đề cần thiết cho sáng tạo-trí tưởng tượng phong phú. Thêm nữa, họ đang ở giai đoạn sung sức của đời người cũng như đời viết.

Thơ ca nói riêng, nghệ thuật nói chung, cần trí tưởng tượng phong phú, một năng lực liên tưởng, suy tưởng cũng như khả năng thâm nhập các chiều kích ở bề sâu của tâm thức. Nghệ thuật không đòi hỏi sự mô phỏng hay sao chép, càng không đặt ra những đối sánh, soi chiếu từ thực tại. Thực tại của nghệ thuật là thực tại của trí tưởng, của tinh thần, của những nỗ lực sáng tạo không ngừng. Bởi thế, từ cuộc thi thơ này, trong tư cách người đọc, tôi dành sự đợi chờ nơi những cây bút trẻ, những khởi động kiếm tìm về miền siêu tưởng, những bày tỏ trong thẳm sâu của linh cảm sống đời và sống thơ. Mạch chảy sử thi lãng mạn vẫn bền bỉ. Đó là di sản của văn học nghệ thuật Việt Nam. Cùng với đó, những mạch nguồn khác đang được khai mở, cho phép chúng ta tin tưởng vào một nền thi ca phong phú, sôi động. Sự đánh giá, lựa chọn, xin được dành cho mỗi người với những thang bậc, thước đo, quan niệm giá trị của riêng mình. Từ đó, mỗi người đọc lại có cho mình những tác phẩm xứng đáng. Cuộc thi, như thế, kết thúc mà thực chất đã mở ra những con đường, những động hướng mới cho thơ ca Việt Nam đương đại.

Tiến sĩ NGUYỄN THANH TÂM