Thế nhưng hiệu quả thu hút vốn FDI vẫn chưa cao. Vì lẽ đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định trong thời gian tới phải nâng cao hiệu quả nguồn vốn này.

Thành phần kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ năm 1988, Việt Nam đã có dự án FDI đầu tiên. Từ đó đến nay, tuy cũng gặp những bước thăng trầm nhưng khu vực kinh tế có vốn FDI vẫn đang là thành phần kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong gần 30 năm qua ở Việt Nam.  

Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến cuối năm 2016, cả nước đang có hơn 22.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt gần 300 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI ước đạt hơn 154,54 tỷ USD (bằng gần 53% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực. Có 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, trong đó Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 5.747 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50,7 tỷ USD; đứng thứ hai là Nhật Bản với 3.280 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 42 tỷ USD...

Báo cáo mới đây của Tổng cục Thống kê nêu rõ: Từ đầu năm 2017 đến thời điểm 20-8-2017, Việt Nam đã thu hút 1.624 dự án FDI cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 13,5 tỷ USD, tăng 0,3% về số dự án và tăng 37,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 773 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 6,4 tỷ USD, tăng 40,2% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 8 tháng năm 2017 lên 19,9 tỷ USD, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm 2016. Vốn FDI thực hiện 8 tháng năm 2017 ước tính đạt 10,3 tỷ USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Đến nay, FDI đã có mặt ở 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm. FDI đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tạo ra hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế, như: Dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép… làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế. Thông qua FDI, Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến của thế giới để phát triển các ngành kinh tế sử dụng công nghệ hiện đại, như: Cơ khí chính xác, điện tử, công nghiệp phần mềm, bưu chính-viễn thông, công nghệ sinh học…  

Hiệu quả FDI chưa được như mong muốn

Tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước đang phát triển, trong đó nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, FDI không phải không có mặt trái, như: Lợi dụng chính sách ưu đãi để thực hiện chuyển giá, đưa vào nước đầu tư những dự án có công nghệ lạc hậu gây tác hại đến môi trường sinh thái, núp bóng dưới hình thức nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài để hoạt động tình báo, gây rối, phá hoại an ninh quốc gia... Thực tế ở Việt Nam, gần 30 năm qua cũng xuất hiện những mặt trái như thế. Đặc biệt, hiệu quả FDI vẫn chưa được như mong muốn của chúng ta.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN. 
Điều dễ nhận thấy là sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp có vốn nội còn hạn chế. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), mới có khoảng 36% số doanh nghiệp Việt Nam tham gia được vào mạng lưới sản xuất để xuất khẩu của khối FDI, rất thấp so với tỷ lệ 60% ở Malaysia hay Thái Lan. Điều này chứng tỏ, doanh nghiệp Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất.

Đánh giá kết quả sau gần 30 năm thu hút vốn FDI, PGS, TS Trần Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho rằng: "Việt Nam chưa tiếp nhận được công nghệ hiện đại, kỹ thuật hiện đại, công nghệ nguồn. Các doanh nghiệp FDI tuy sử dụng công nghệ cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước nhưng phần lớn vẫn là công nghệ trung bình và thấp. Đặc biệt, trong các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày da, chế biến thực phẩm, đồ uống… số dự án sử dụng công nghệ cao còn ít...".  

Làm thế nào để nâng cao hiệu quả FDI?

Nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực FDI là mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp quy mô lớn, chất lượng cao, gắn với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu”.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về nâng cao hiệu quả sử dụng FDI, trước hết cần phải thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng trong lĩnh vực này bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Phải xác định rõ thu hút đầu tư nước ngoài vừa là thời cơ, cũng vừa là thách thức, đồng thời vừa đấu tranh, vừa hợp tác... từ đó chúng ta mới phát huy nội lực và nâng cao khả năng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Cần xây dựng mối quan hệ hợp tác, hai bên cùng có lợi, bảo đảm thu hút được nhiều FDI mà vẫn giữ được độc lập tự chủ về mọi mặt theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nhận diện thật thấu đáo đối tác và đối tượng trong từng dự án FDI. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, cần quan tâm đến chính sách tiền lương, xây dựng tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp FDI để bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam.

Điều quan trọng nữa là phải định hướng hoạt động của các doanh nghiệp FDI cho phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Đối với những ngành hàng mà nước ta có lợi thế, như nông sản và các sản phẩm sử dụng nhiều lao động, nên đầu tư nhiều hơn. Một số mặt hàng ta không có lợi thế, như: Xi măng, thép, đường, giấy thì không nên đầu tư để xây dựng mới, mà chỉ củng cố những dự án đã có để sử dụng hết công suất, đặc biệt là khâu cung ứng nguyên liệu. Khuyến khích các doanh nghiệp FDI sản xuất hàng xuất khẩu, đồng thời khai thác tối đa thị trường nội địa để thay thế hàng nhập khẩu.

Đối với công tác quản lý, cần tăng cường kiểm tra, giám sát để hạn chế các dự án vào các lĩnh vực phi sản xuất, lĩnh vực làm gia tăng nhập siêu, sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai, các dự án tiêu tốn năng lượng, gây ô nhiễm môi trường. Kiên quyết thu hồi giấy phép đầu tư những dự án chưa triển khai nhưng đã quá thời hạn quy định mà chủ đầu tư không có năng lực tài chính; những dự án không phù hợp với định hướng, mục tiêu của nước ta như tiêu tốn năng lượng, thâm dụng lao động, gây ô nhiễm môi trường… Chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước.

ĐỖ PHÚ THỌ