Trong điều kiện đất nước bị thực dân Pháp, rồi phát xít Nhật thống trị, Đảng ta đã sớm nhận thức tầm quan trọng của việc xây dựng căn cứ địa vững mạnh làm bàn đạp để tiến công địch, bảo vệ mình; đồng thời huy động nhân lực, vật lực, bảo đảm cho lực lượng vũ trang (LLVT) tác chiến, giữ vai trò quyết định đối với tiến trình phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ những năm 1941-1944, Trung ương Đảng đã chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn-Võ Nhai và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Cao Bằng, sau đó phát triển thành hai chiến khu: Cao-Bắc-Lạng và Thái-Tuyên-Hà. Đến cao trào kháng Nhật, cứu nước, cùng với việc hình thành hàng loạt căn cứ địa ở nhiều địa phương, đã hình thành các chiến khu: Trần Hưng Đạo (Đông Triều), Quang Trung (Hòa-Ninh-Thanh), Vĩnh Sơn-Núi Lớn (Quảng Ngãi). Đặc biệt, ngày 4-6-1945, Chiến khu Việt Bắc (Khu giải phóng), gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang và một phần các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên được hình thành. Việt Bắc được xây dựng thành một căn cứ địa hoàn chỉnh (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội), làm chỗ dựa vững chắc của cách mạng cả nước.

leftcenterrightdel
Các đơn vị Giải phóng quân và dân quân, du kích từ các chiến khu tiến về Hà Nội, tập trung trước Nhà hát Lớn, ngày 30-8-1945. Ảnh tư liệu.

Căn cứ địa cách mạng là nơi ra đời, trung tâm tập hợp LLVT cách mạng. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân ra đời tại Chiến khu Việt Bắc. Các đơn vị du kích tập trung của tỉnh, huyện cũng đều ra đời ở các căn cứ địa, chiến khu, như: Trung đội Giải phóng quân ở Chiến khu Quang Trung; Du kích cách mạng quân ở Chiến khu Trần Hưng Đạo; hai Đại đội Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám ở Chiến khu Vĩnh Sơn-Núi Lớn... Các đơn vị LLVT đứng chân ở từng căn cứ địa, đặc biệt là Việt Nam Giải phóng quân ở các chiến khu lớn là lực lượng nòng cốt cho toàn dân khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.

Căn cứ địa, chiến khu là nơi cung cấp, dự trữ lương thực, phát triển lực lượng về mọi mặt, nhất là quân sự và đùm bọc, che chở cho cơ quan lãnh đạo, LLVT ta khi bị địch truy quét. Ở mỗi vùng căn cứ, Đảng ta chỉ đạo tuyên truyền, động viên nhân dân quyên góp, ủng hộ lương thực, các nhu yếu phẩm khác và đưa con em tham gia các đơn vị LLVT. Tại Việt Bắc, lúc thành lập Việt Nam Giải phóng quân (ngày 15-5-1945) mới có 13 đại đội, đến tháng 6-1945, các tỉnh đều phát triển lực lượng, riêng Cao Bằng tổ chức được 20 đại đội. Sự tồn tại của các căn cứ địa là nỗi lo và mối nguy hiểm lớn đối với địch. Vì vậy, khi phát hiện, địch tập trung càn quét, triệt hạ các khu căn cứ của ta. Song, LLVT ta kiên quyết đánh chặn, bẻ gãy các đợt tiến công của địch. Điển hình, ở Việt Bắc, các đơn vị Giải phóng quân anh dũng chiến đấu, bẻ gãy 3 mũi tiến công của 2.000 quân địch (cuối tháng 5-1945), bảo vệ vững chắc Khu giải phóng, duy trì và phát triển lực lượng chủ lực ta. Đồng thời, nắm bắt và chủ động tận dụng thời cơ, Đảng ta chỉ đạo các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân xuất phát từ các khu căn cứ, phối hợp với du kích, tự vệ làm nòng cốt cho nhân dân các địa phương khởi nghĩa từng phần. LLVT ta tổ chức nhiều trận đánh, điển hình là các trận: Đồn Bàng (Kiến An), Tam Đảo (Vĩnh Yên), huyện lỵ Yên Hưng và thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh)… thắng lợi, góp phần đẩy mạnh cao trào khởi nghĩa từng phần trong cả nước.

Trước việc Nhật đầu hàng Đồng minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng (từ ngày 13 đến 15-8-1945) quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam. Ngay sau đó, Đảng ta quyết định sử dụng các LLVT, từ các vùng nông thôn, đồng bằng, thành thị đến trung du, miền núi, từ miền Bắc đến miền Nam, trong đó Việt Nam Giải phóng quân làm nòng cốt, xuất phát từ các chiến khu, căn cứ địa cách mạng, do Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và các Đảng bộ từng địa phương lãnh đạo, chuyển từ khởi nghĩa từng phần ở địa phương tiến lên tổng khởi nghĩa trên quy mô toàn quốc. Lúc này, mục tiêu tiến công của ta không còn là những đồn, bốt, châu lỵ và các vị trí khác của địch ở huyện, xã, mà là những căn cứ chính của địch, các thị xã và thành phố. Bằng các đòn tiến công quân sự, kết hợp với đấu tranh chính trị, nổi dậy của quần chúng, đến ngày 28-8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công trên phạm vi cả nước.

Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thể hiện Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất sáng suốt đã sớm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng căn cứ địa, mở rộng thành chiến khu, trung tâm hình thành các LLVT cách mạng; nơi cung cấp, dự trữ lương thực, phát triển LLVT và đùm bọc, che chở cơ quan lãnh đạo, LLVT ta khi bị địch truy quét, làm bàn đạp khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước thắng lợi nhanh chóng.

Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP