Tin tức
Kỷ niệm 88 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2013)
QKQD - Thứ Sáu, 14/06/2013, 14:57 (GMT+7)

Vậy là ngày 21- 6 - 2013 – ngày Nhà báo cách mạng Việt Nam – đến rồi. Còn nhớ cũng ngày này, ngày 21- 6 - 2011, anh Nguyễn Bá Đàn, nguyên Trưởng Ban Biên tập, nguyên Phó Tổng Biên tập đầu tiên của Báo Quân khu gọi điện cho tôi: “Ngày 21-6 năm nay, chúng ta vắng mất bác Thanh Đồng rồi. Thương anh ấy qua. Đó là một con người suốt đời tận tụy với nghề nghiệp, suốt đời tận tâm với anh em đồng đội. Càng nghĩ về anh ấy, mình càng thấy chúng ta cần gắng gỏi lên…!” Ấy vậy mà chỉ chưa đầy một năm sau cú điện thoại định mệnh ấy, anh Nguyễn Đình Thái, Tổng Biên tập Báo gọi cho tôi: “ Anh Nguyễn Bá Đàn “đi ” rồi, anh Xuân Diệu ạ. Anh có đi viếng anh Đàn thì sang Tòa soạn để đi cùng với anh em.” Hôm đó nắng nung chín những ruộng ớt miệt vườn Nghi Thạch, tôi, Phan Thanh Hải và mấy anh em Báo Quân khu lặng lẽ đi trong đoàn người cũng lặng lẽ đưa anh Bá Đàn về chốn địa đàng.

Tháng 1 năm 2013, Thiếu tướng Võ Văn Việt, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu trao đổi với Ban biên tập, phóng viên Báo Quân khu về đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, hình thức tuyên truyền trên báo Quân khu Bốn. Ảnh: Hương Sơn

 

Với tôi, với nhiều anh em trong làng Báo Quân khu ta, anh Bá Đàn là một trong những cây đại thụ. Anh Bá Đàn gia nhập làng báo Cách mạng sớm, là một nhà báo xông xáo và có tài. Anh từng làm phóng viên Báo của mặt trận B3 (Tây Nguyên), rồi Báo Quân khu Một, mới về Báo Quân khu Bốn. Vốn kiệm lời, nhưng anh rất có cái tâm của người lãnh đạo làng báo. Đối với anh em mới vào nghề, anh rất quan tâm chỉ dẫn từng việc nhỏ, từ cách lấy tin, cách viết một bài ghi chép, phóng sự. Nhiều lần anh tâm sự với tôi: “Chúng ta đều là những người lính trận có chút năng khiếu mà được điều động về làm báo, viết báo phục vụ Đảng, phục vụ Quân đội, Quân khu. Vì thế chẳng phải ai buổi đầu cũng viết hay, nên phải quan tâm cho anh em đi xuống cơ sở thật nhiều, đọc thêm sách báo thật nhiều. Bài viết nào còn dở thì chỉ vẽ, trao đổi kỹ với anh em, để rút kinh nghiệm. Phải biết tạo cảm xúc, tôn trọng cảm hứng của anh em, mới có tác phẩm hay được.” Bởi anh hiểu rất rõ, đã được vinh dự làm một nhà báo lính, được phục vụ đồng đội của mình, ai chẳng vui, chẳng có chí tiến thủ; ai chẳng muốn phấn đấu vì cái nghề, cái nghiệp của mình! Tính anh rất cẩn thận, kín kẽ trong cách dùng từ, cách đặt câu. Cũng bởi không những là một nhà báo có tên tuổi mà anh còn là một người viết văn, làm thơ. Anh được tin cậy chấp bút viết hồi ký cho tướng Đàm Quang Trung thời ông là Tư lệnh Quân khu Một. Nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là thể loại Truyện Ký của anh thấm đẫm tình người, tình đồng đội được in trong các tập “ Truyện Ký Quân Khu Bốn”, trong các tập truyện QĐND. Nhiều năm, là Trưởng Ban Biên tập, là Phó Tổng Biên tập đầu tiên của Báo Quân khu, anh dã góp phần không nhỏ lãnh đạo, hướng dẫn các phóng viên, cùng đồng nghiệp của làng Báo Quân khu không ngừng đưa tờ báo của chúng ta đi lên… Anh ra đi ở độ tuổi 72, với một người làm báo, viết văn nhiều trầm tích như anh, còn nhiều dự định chưa thành. Thật tiếc biết bao!

Những tưởng sau khi anh Thanh Đồng ra đi, rồi anh Bá Đàn đột ngột từ giã chúng ta, mất mát như thế là đã quá lớn rồi. Một sáng tháng tư, năm 2013 này, tôi nhận được một cuộc gọi của Phan Thanh Hải, Phó Tổng Biên tập, báo tin anh Nguyễn Đức Vĩnh (Huyền Dân), nguyên Trưởng Ban Biên tập báo Quân Giải phóng Trị - Thiên, nguyên Trưởng Ban Biên tập Báo Quân khu Bốn vừa qua đời. Cùng Thanh Hải và mấy anh em trong Ban Biên tập Báo Quân khu, chúng tôi vượt gần trăm cây số về “thảo am” của anh ở làng Phúc Trạch, Hương Khê, để đưa tiễn anh về nơi an nghỉ. Trong cơn mưa ngàn mù mịt lễ tang, trĩu nặng trong tôi, những ký ức với anh dồn về. Anh Đức Vinh từ báo Quân Giải phóng Trị - Thiên về Báo Quân khu sau ngày đất nước mới giải phóng, Đó là những ngày đất nước đang vô cùng khó khăn. Chưa nói đến chuyện các phóng viên Báo Quân khu đi tác nghiệp khắp 6 tỉnh mà cái xe đạp đến lốp cũng mấy lần dùng dây cao su “cố vấn”. Chưa kể đến việc hàng tháng, các phóng viên phải vượt núi Đại Huệ sang Nghi Kiều, Nghi Công, (Nghi Lộc, Nghệ An) tăng gia lúa, màu để đảm bảo một phần lương thực, thực phẩm, chỉ nói chuyện nước sinh hoạt cũng đã đầy cam go. Ngày đó, Quân khu còn ở nơi sơ tán trên Trại Hồng, núi Đại Huệ. Nước sinh hoạt của cả Cục Chính trị chỉ dựa vào mấy ống nước bắt từ con khe nhỏ trên núi. Báo Quân khu xa vòi nước, nên phải đào cái giếng bằng đất nông choèn ngay trước Tòa soạn, tới mùa hè là cạn khô, anh em phải căng một tấm tăng ni lon để hứng nước mưa mà sinh hoạt. Tòa soạn Báo Quân khu ngày ấy chỉ là ngôi nhà tranh, vách liếp, phóng viên kê giường nằm sát nhau như lính đơn vị, đến bàn ghế tiếp khách cũng không có. Anh Vĩnh vốn quen cuộc sống sinh hoạt ở chiến trường lại khéo tay. Chẳng biết anh xin đâu được mấy miếng gỗ dán về cắm cúi đo đạc, cưa thành chân, thành mặt ghế, dùng đinh đóng thành mấy cái ghế chỉ nhỉnh hơn cái “đòn” của các bà vẫn dùng ngồi đun bếp. Thế là thành nơi tiếp khách của Tòa soạn Báo. Anh Vĩnh nghiền trà, mà ở khu vực Đại Huệ ngày đó thường mưa vào buổi trưa, thế nên buổi trưa anh Vĩnh thường ít ngủ, hễ nghe tiếng mưa là chạy ra dùng xô hứng nước mưa về pha trà và để anh em đánh răng, rửa mặt. Là Trưởng Ban Biên tập, anh lo lắng cho anh em phóng viên từng việc hết sức nhỏ như thế. Ngày đó, cứ mỗi khi Tết đến, anh thường “tin tưởng” cử tôi mang cặp pin phân phối của anh vào xóm để đổi cho dân lấy cành đào về trưng nơi phòng khách. Tôi còn nhớ đến rưng rưng, khi thấy tôi mang cành đào về, anh cứ ngồi ngắm nghía mãi, tự thưởng cho mình một điếu thuốc lá cuốn to đùng nom như thuốc rê của đồng bào dân tộc Vân Kiều, rồi xoa xoa tay hít hà mãi cái câu: “Rứa là ta có Tết rồi đó các cậu!”. Trong Tòa soạn, tôi vốn là người tếu táo nhất, được mấy anh lớn tuổi “cưng” nên lắm lúc thấy thế, giả vờ thở dài. Biết tôi sắp giở bài nói khích, anh Vĩnh cười hiền:

- Hoàn cảnh chung của đất nước, của Quân khu mà cậu. Mà tớ nói thật, ta ở cơ quan quân khu mà đã vất vả thế này, mới biết anh em dưới đơn vị còn vất vả dường nào, Thế mới biết thương anh em, thông cảm với anh em; đi cơ sở mới hòa đồng với anh em, bài viết mới có cái hồn được. Đúng không?

Vậy mà bây giờ anh đã “đi ” rồi!

Chưa tròn ba năm, ba nhà báo Cách mạng gạo cội của Quân khu, ba Trưởng Ban Biên tập Báo Quân khu từ biệt chúng ta về cõi vĩnh hằng.

“Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng trong lòng?..” (*)

Vẫn biết từng là “phóng viên mặt trận”, từng là “nhà báo chiến trường”, các anh đã sống hết mình, đã vì nhân dân phục vụ hết mình, cuối đời “ra đi” ai cũng thanh thản. Vẫn biết mình nào có đưa các anh qua sông, nhưng sao tiếng sóng cứ vỗ vô hồi, cứ vỗ nhức nhối trong lòng tôi không dứt. Vẫn biết các anh “ra đi” là mất mát vô cùng, là tiếc thương vô hạn, nhưng ai mà chống được sự nghiệt ngã của thời gian. Nhưng “ra đi”, các anh đã để lại cho Báo Quân khu chúng ta, cho mỗi nhà báo trong làng Báo Quân khu; để lại trong lòng đồng đội, một tài sản vô giá. Đó là những tác phẩm dù được viết trong thời rực trời bom lửa, hay trong gian khó đời thường, vẫn đang sống mãi trong lòng chúng ta, trong lòng độc giả. Đó là tấm lòng dũng cảm, tận tụy, suốt đời cống hiến không mệt mỏi vì sự nghiệp báo chí cách mạng; suốt đời cống hiến không mệt mỏi vì đồng nghiệp, đồng đội. Các anh đã sống, đã chiến đấu bằng ngòi bút của mình; lặng lẽ tỏa sáng dâng hiến cho cuộc đời đến giây phút cuối cùng bằng phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”; bằng cái tâm của một nhà báo lính, của một nhà báo cách mạng Việt Nam!

NGUYỄN XUÂN DIỆU

(*) Bài thơ Tống Biệt hành – Thâm Tâm

Ý kiến của bạn
Họ và Tên:*
E-mail:*
Tiêu đề:*
Mã xác nhận:*

Nội dung:*
Truyền hình Quân khu 4 ngày 18-4
Thừa Thiên Huế là nơi có nhiều di tích lịch sử của một cố đô. Trong chiến tranh, Thừa Thiên Huế cũng là nơi giao tranh dữ dội, là vùng tranh chấp giữa một bên là bộ đội chủ lực ở các căn cứ vùng đồi núi ở phía Tây và cơ sở cách mạng, du kích ở vùng đồng bằng...