LỊCH SỬ QUÂN KHU 3
QKQD - Thứ Năm, 08/03/2012, 9:19 (GMT+7)

 

QK3 - Liên khu 3 được hình thành trên cơ sở hợp nhất Chiến khu 2 (hữu ngạn sông Hồng) và Chiến khu 3 (tả ngạn sông Hồng). Hai năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (từ tháng 7-1954) Liên khu 3 lại tách thành Khu 3 và khu Tả Ngạn trực thuộc Trung ương. Mặc dù tổ chức chiến trường có thay đổi song Liên khu 3 (ngày nay là Quân khu 3) là một địa bàn chiến lược hoàn chỉnh gồm phần lớn các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ và một số địa phương phụ cận có địa hình rừng núi và bán sơn địa.

 

Liên khu 3, Khu 3, đồng bằng sông Hồng hoặc đồng bằng Bắc Bộ là những tên gọi khác nhau của một vùng đất mà lịch sử của nó đã gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, nơi có một nền văn minh cổ xưa rực rỡ, nơi đã diễn ra biết bao sự tích anh hùng và chiến công hiển hách.

 

Liên khu 3 – trên cơ sở hợp nhất các chiến khu 2, 3 và 11 từ tháng 1 năm 1948 – nằm trọn vùng đồng bằng Bắc Bộ và phụ cận, gồm các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hòa Bình với diện tích khoảng 16 nghìn ki-lô-mét vuông. Địa bàn Khu 3 tiếp giáp Biển Đông với bờ biển dài gần 200 ki-lô-mét. Trên đất liền, Khu 3 tiếp giáp các tỉnh Quảng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang ở phía Bắc, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ ở phía bắc-tây bắc, Sơn La ở phía tây và Thanh Hóa ở phía Tây Nam.

 

Trung tâm đồng bằng Bắc Bộ có diện tích 900 nghìn héc-ta đất nông nghiệp, trong đó có hơn 700 nghìn héc ta đất phù sa sông có độ phì nhiêu lớn và nguồn nước tưới dồi dào, với nhiều yếu tố thuận lợi về khí hậu, thời tiết. Những yếu tố tự nhiên thuận lợi đó của đồng bào Bắc Bộ đã thu hút những người từ các vùng xung quanh đến sinh cơ lập nghiệp. Do đó, nền công nghiệp đa dạng, phong phú ở đây xuất hiện sớm.

 

Dọc bờ biển vùng đồng bằng có nhiều cửa sông lớn, nhỏ, thuận lợi cho thuyền bè ra vào, như các cửa Nam Triệu, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình, Diêm Điền, Trà Lý, Ba Lạt, Ninh Cơ. Ngoài khơi có nhiều biển đảo, ngoài giá trị về kinh tế, còn là những vị trí tiền tiêu canh giữ biển khơi và đất liền như các đảo Bạch Long Vĩ, Long Châu, Cát Bà, Cát Hải … Vùng ven biển đồng bằng đã xuất hiện nhiều ngành nghề từ rất sớm như nghề làm muối, đánh bắt thủy sản.

 

Trên đất liền, bao quanh đồng bằng Bắc Bộ là một vành đai gồm những dải đất trung du và rừng núi liên hoàn, nhất là ở phía tây-bắc. Riêng đất lâm nghiệp, theo thống kê chưa đầy đủ đã có trên 300 nghìn héc-ta – điều kiện cho nền kinh tế nông nghiệp nương rẫy và lâm nghiệp phát triển.

 

Đi đôi với những hoạt động kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp, các ngành nghề thủ công cũng ngày một phát triển. Cách đây hàng ngàn năm, trên vùng châu thổ sông Hồng đã có những trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa có ảnh hưởng lớn đến cả nước. Một số vùng như Cổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long đã trở thành kinh đô, riêng vùng đất Thăng Long từ đầu thế kỷ 11 là kinh đô của nước ta trong chín thế kỉ liền. “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến” nói lên sự phồn thịnh và sầm uất của hai trung tâm lớn trên châu thổ sông Hồng.

 

Từ cuối thế kỉ 19, khi chủ nghĩa tư bản xâm nhập nước ta, qua các lần khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai của thực dân Pháp, cơ cấu kinh tế trên địa bàn sông Hồng có một số thay đôi, chủ yếu trên lĩnh vực sản xuất, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp khai khoáng. Các trung tâm kinh tế, chính trị vốn được mở rộng thêm. Một số thành phố, thị xã, thị trấn mới được xây dựng. Đồng bằng Bắc Bộ trở thành một trong những khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp trong cả nước. Vai trò của đồng bằng Bắc Bộ ngày càng lớn do sự xuất hiện và phát triển của một hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông, đường không với các phương tiện vận chuyển cơ giới giữa các miền, giữa miền Bắc với miền Trung và miền Nam Việt Nam, giữa Việt Nam với Lào…

 

Hệ thống đường bộ có các quốc lộ 1,2,3,5,6,10,11A,12,21 và nhiều đường liên tỉnh, liên huyện. Hệ thống đường sắt có các đường Hải Phòng-Hà Nội, Hà Nội-Lạng Sơn, Hà Nội-Yên Bái, Hà Nội-Thái Nguyên, Hà Nội-Sài Gòn. Hệ thống đường thủy có sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình, sông Luộc… Các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy nối liền giữa các vùng là một thuận lợi lớn cho giao lưu kinh tế và cơ động lực lượng quân sự. Tuy vậy, những con sông lớn đã cắt đồng bằng ra làm nhiều mảnh, gây khó khăn trong cơ động và hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang tập trung. Đường không có các sân bay: Cát Bi, Gia Lâm, ngày nay có thêm sân bay quốc tế Nội Bài (và một số sân bay quân sự) hình thành mạng lưới hàng không dân dụng với các nước Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới. Cảng Hải Phòng ngày càng được xây dựng mở rộng thành một hải cảng lớn với lưu lượng tàu biển, tàu sông lớn, là cửa ngõ đường biển chủ yếu của miền Bắc Việt Nam, bắc Đông Dương và với thế giới.

 

Về địa lý quân sự, địa bàn Khu 3 chia làm 4 vùng rõ rệt: vùng rừng núi, trung du; vùng nông thôn đồng bằng; vùng ven biển, hải đảo và vùng thành phố, thị xã, thị trấn.Vùng rừng núi, trung du thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến, xây dựng nghĩa quân, lực lượng vũ trang tập trung. Rừng núi có thế hiểm “tiến có thể công, lui có thể giữ”, địch khó xâm nhập, khó phát huy thế mạnh của binh khí kỹ thuật. Vùng ven biển, hải đảo thuận lợi trong tổ chức phòng ngự, đánh được quân địch từ xa đến gần khi chúng tiến công bằng đường biển vào địa bàn. Nông thôn đồng bằng và thành phố, thị trấn do địa hình bằng phẳng, giao thông thuận lợi nên quân địch có lợi thế trong cơ động lực lượng và phát huy thế mạnh về binh khí kỹ thuật. Nhưng đồng bằng lại là nơi ta có ưu thế về sức người, sức của, có “trận địa long dân”. Với lũy tre, gò đống, ao hồ, làng mạc và tấm lòng yêu quê hương, đất nước, những người dân đồng bằng có thể dựng lên những làng xã chiến đấu, khu chiến đấu, cụm chiến đấu độc lập và liên hoàn khá vững chắc, trụ bám chống lại kẻ thù và có ưu thế về lực lượng quân sự và binh khí kỹ thuật.

 

Khu 3 là chiến trường có những khả năng to lớn về sức người với những truyền thống tốt đẹp. Về sức của, với nền nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển và đã hình thành một bước các trung tâm kinh tế, trong đó có nhiều ngành công nghiệp và hệ thống giao thông vận tải thuận lợi, các địa phương và toàn địa bàn có thể tự lực đáp ứng những yêu cầu về hậu cần tại chỗ trong chiến tranh. Thời tiết, khí hậu đồng bằng Khu 3 thuộc vùng nhiệt đới, ảnh hưởng của gió mùa Nam và gió mùa Bắc. Mùa hè nóng, mùa đông khá lạnh. Lượng mưa trung bình là 1,675 mi li mét. Nhiệt độ thấp nhất 4 độ, cao nhất 42 độ. Độ ẩm trung bình ít khi xuống dưới 80 phần trăm. Thời tiết, khí hậu đó vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt đối với sản xuất nông nghiệp đồng thời ảnh hưởng đến những hoạt động quân sự. Nạn hạn hán, úng lụt, bão lớn, sâu bệnh thường xảy ra.

 

Đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận là một trong những vùng đất có lịch sử lâu đời và có đóng góp xứng đáng và lịch sử dân tộc.

 

Nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi, địa bàn chiến lược này là một trong những vùng dân cư tập trung đông, chiếm tỷ lệ bình quân một phần sáu số dân trong cả nước. Bên cạnh bộ phận đông nhất là người Kinh còn có nhiều dân tộc anh em sinh sống, chủ yếu ở vùng rừng núi. Trong đó, các nhóm tương đối đông là người Mường (Hòa Bình, Hà Nam…), người Dao (Sơn Tây, Hòa Bình), người Thái (Hòa Bình) và người Hoa sống ở hầu hết các tỉnh lỵ, tập trung đông nhất ở Hải Phòng.

 

Về mặt tôn giáo, tín ngưỡng, ngoài đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, chủ yếu là đạo Phật, thâm nhập vào địa bàn này từ rất sớm, đến giữa thế kỷ 16, đạo Thiên chúa bám rễ vào vùng duyên hải, từ đó phát triển rộng ra khắp vùng đồng bằng, tập trung nhất ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam. Về cơ cấu giai cấp, ở đồng bằng Khu 3 nông dân lao động chiếm số đông nhất, tầng lớp phú nông, địa chủ chỉ chiếm một tỷ lệ thấp. Giai cấp công nhân và tầng lớp thợ thủ công, tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ, tiểu tư sản học sinh, trí thức, viên chức, giai cấp tư sản với hai bộ phận là tư sản dân tộc và tư sản mại bản, tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, các thành phố, thị xã, thị trấn trong vùng.

 

Được thiên nhiên ưu đãi, cộng đồng người sinh sống trên địa bàn này, qua đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để tồn tại đã làm cho vùng đồng bằng sông Hồng phát triển vượt lên, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

 

Những phố phường, thôn xóm, thực hiện sản xuất chuyên môn hóa với những sản phẩm nổi tiếng về chất lượng và thẩm mỹ. Các công trình kiến trúc độc đáo mang sắc thái dân tộc được xây dựng và đứng vững qua nhiều thế kỷ. Những hệ thống đê sông, đê biển có tổng chiều dài hàng nghìn ki lô mét nói lên sự sáng tạo về trí tuệ và sức lao động cần cù, nhẫn nại của người dân đồng bằng. Những tác phẩm văn học của Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Ngô Thì Nhậm… các bộ lịch sử của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên… các công trình toán học của Vũ Hiền, Lương Thế Vinh, những bộ “Tập đại thành” về y dược, y học của Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, những công trình về kiến thức bách khoa của Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú và Lê Quý Đôn… cũng biểu hiện tài năng của con người đồng bằng sông Hồng.

 

Đồng thời với quá trình dựng nước, cư dân vùng đồng bằng sông Hồng đã cùng cả nước hàng trăm lần đứng lên đoàn kết chiến đấu để giữ nước và cứu nước.

 

Khi phát động các cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, kẻ thù thường tập trung lực lượng lớn, ưu tiên số một cho việc tổ chức chiếm đóng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Về phía ta, trong chiến tranh, việc giữ và giành lại vùng đồng bằng cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt chiến lược. Giữ vững vùng đồng bằng sông Hồng là giữ kho người, kho của, giữ vùng hậu phương chiến lược trù phú để tiến hành chiến tranh, bảo đảm cho nhu cầu tại chỗ, đồng thời chi viện cho các khu vực khác.

 

Bên cạnh vai trò là hậu phương chiến lược trực tiếp cho chiến tranh giữ nước và giải phóng đất nước, do vị trí địa lý của mình, đồng bằng sông Hồng giữ vai trò là “cửa ngõ”, là “phên dậu” đối với Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội – yếu khu có ảnh hưởng quyết định về chính trị, quân sự… của đất nước qua nhiều thời kỳ lịch sử.

 

Cũng do vị trí địa lý của mình, đồng bằng Bắc Bộ có vị trí tiếp giáp và cơ động lực lượng thuận lợi với nhiều khu vực trong cả nước bằng đường bộ và đường thủy. Trong suốt các cuộc chiến tranh giữ nước và giải phóng đất nước, đồng bằng Bắc Bộ đã hình thành mối quan hệ gắn bó với thủ đô Hà Nội, căn cứ địa Việt Bắc, khu Tây Bắc, khu Quảng Ninh, khu vực phía Nam và thường là nơi đứng chân của cơ quan đầu não-đại bản doanh của các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Nhân dân các dân tộc vùng đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận cố kết nhau lại thành một khối vững chắc, chống lại kẻ thù trên tất cả các lĩnh vực.

 

Nằm trong cuộc chiến đấu chung của cả nước, nếu như cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng mở đầu cho truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất của dân tộc thì cuộc nổi dậy của Lý Bí – Triệu Quang Phục ở ngay trung tâm đồng bằng sông Hồng, đánh đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, là sự phủ định hiên ngang cái uy quyền “bình thiên hạ” của đế chế Hán xâm lược. Tiếp sau Khúc Thừa Dụ là Ngô Quyền (năm 938), lần đầu tiên dòng sông Bạch Đằng nổi sóng nhấn chìm quân Nam Hán, làm chúng khiếp sợ phải từ bỏ âm mưu đánh chiếm nước ta. Mùa xuân 981, dưới sự chỉ huy của anh hùng dân tộc Lê Hoàn, quân dân đồng bằng cùng với cả nước đã một lần nữa đánh thắng quân xâm lược phương bắc, giữ vững nền độc lập của dân tộc.

 

Thế kỉ 13, đế quốc Mông – Nguyên ba lần cất quân xâm lược đều bị quân dân đồng bằng cùng cả nước đánh cho đại bại. Trong những chiến công lừng lẫy đó, đồng bằng sông Hồng là căn cứ tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, là bàn đạp tập kết và xuất phát tiến công của các đội quân lớn dưới sự thống lĩnh của đơn vị anh hùng dân tộc kiệt xuất Trần Quốc Tuấn. Những chiến công Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp và chiến thắng trên sông Bạch Đằng lần thứ ba mãi mãi đi vào lịch sử như những mốc son chói lọi của đồng bằng sông Hồng và cả nước.

 

Hơn trăm năm sau, quân Minh xâm lược và thống trị nước ta. Lê Lợi, Nguyễn Trãi với tư tưởng “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn” đã thu phục lòng dân tiến hành khởi nghĩa thắng lợi và đồng bằng sông Hồng đã trở thành chiến trường quyết định số phận bọn giặc Minh xâm lược.

 

Cuối thế kỷ 18, quân xâm lược nhà Thanh tiến vào giày xéo đất nước ta. Quân dân đồng bằng lại nhất tề đứng dậy tập hợp dưới cờ của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ lập nên chiến công hiển hách Tết Kỷ Dậu ở Ngọc Hồi, Đầm Mực, Đống Đa, giải phóng kinh đô Thăng Long, làm tê liệt mưu đồ xâm lược của bọn bành trướng phương bắc đối với Việt Nam từ đó.

 

Cái họa phương Bắc vừa dứt thì nạn ngoại xâm của thực dân tư bản phương tây lại đến. Vào giữa thế kỷ 19, với việc đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất rồi lần thứ hai, thực dân Pháp đã từng bước đánh bại quân triều đình nhà Nguyễn, buộc nhà Nguyễn đầu hàng, biến nước ta thành nước thuộc địa. Tuy vậy, phong trào kháng chiến của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ cùng cả nước vẫn duy trì và phát triển hơn 20 năm trời với các lãnh tụ nghĩa quân như Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Tít, Đội Văn, Đề Nắm, Đốc Ngữ, Đề Thám…

 

Trong suốt các cuộc chiến tranh giữ nước và giải phóng đất nước suốt hàng ngàn năm, nhân dân các dân tộc đồng bằng sông Hồng và các vùng phụ cận cùng nhân dân cả nước đã tiến hành những cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn để đánh bại kẻ thù và khẳng định sự tồn tại của mình đối với các lân quốc, đặc biệt là bọn bành trướng phương bắc.

 

Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, nằm trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người dân đồng bằng sông Hồng đã xây dựng được những truyền thống quý báu. Thế hệ nối tiếp thế hệ, những truyền thống đó – đồng thời là những tính cách của người dân đồng bằng không ngừng được khẳng định, giữ gìn và phát huy ngày càng phong phú cho đến thời đại ngày nay – thời đại Hồ Chí Minh.

 

Đó là tấm lòng thủy chung, đoàn kết, gắn bó sớm tối có nhau trong tình làng nghĩa xóm, không thể tách rời; là tinh thần lao động cần cù, nhẫn nại và sáng tạo; là lòng yêu nước nồng nàn, kiên cường, bất khuất với tinh thần “nước còn nhà còn, nước mất nhà tan”; vừa đánh giặc, vừa cày ruộng, vừa xây dựng, bảo vệ quê hương, vừa tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

 

Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, người dân đồng bằng sông Hồng – đồng bằng Bắc Bộ - đồng bằng Khu 3 đã biểu hiện sức sống mãnh liệt và chứng minh rõ nét những tính cách, truyền thống và phẩm chất của mình. Từ khi có Đảng Cộng sản và Bác Hồ vĩ đại lãnh đạo cách mạng Việt Nam, những tính cách, truyền thống, phẩm chất đó càng được bồi bổ, phát huy và trở thành những nhân tố cơ bản để giành thắng lợi trong giải phóng, chiến tranh giữ nước và xây dựng đất nước.

(Còn nữa...)
Nguồn: Lịch sử Quân khu 3, NXB QĐND

Ý kiến của bạn
Họ và Tên:*
E-mail:*
Tiêu đề:*
Mã xác nhận:*

Nội dung:*
Truyền hình Quân khu 3 (2-2014)
Sau khi kết thúc giai đoạn tiến công xâm lược nước ta, có bọn phong kiến phản động triều Nguyễn làm tay sai, thực dân Pháp đã thi hành những chính sách vô cùng tàn bạo, nham hiểm nhằm kìm kẹp, bóc lột nhân dân ta.