LỊCH SỬ QUÂN KHU 2
QKQD - Thứ Ba, 06/03/2012, 15:0 (GMT+7)

QK2 - Cách mạng tháng Tám vừa thành công, đất nước ta vừa giành được độc lập, thực dân Pháp đã nuốt lời cam kết quay trở lại xâm lược Việt Nam. Đến đầu năm 1946, sau khi chiếm được Lai Châu, với sự tăng viện quân đáng kể, Pháp đã mở rộng địa bàn chiếm đóng ra các vùng lân cận với ý đồ thôn tính toàn bộ vùng Tây Bắc, cô lập Việt Bắc ở Phía Tây, uy hiếp đồng bằng Bắc Bộ, làm bàn đạp tiến công xâm nhập Lào, khép chặt biên giới Việt  - Trung.

Tổ quốc lâm nguy, vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lần lượt ký với Tưởng rồi Pháp các Hiệp ước, Hiệp định sơ bộ nhằm tranh thủ thời gian hoà hoãn để củng cố lực lượng, sẵn sàng đương đầu với một cuộc chiến mới mà ta biết chắc là không thể tránh khỏi.

Trước tình hình hết sức khẩn trương trên các chiến trường, đặc biệt là chiến trường chính Bắc Bộ để kịp thời chỉ đạo công cuộc kháng chiến tại chỗ trên địa bàn chiến lược quan trọng này, ngày 19-10-1946 Chiến khu 10 được thành lập bao gồm các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Yên và huyện Mai Đà (Hoà Bình). Thời gian này Khu bộ đóng ở Việt Trì. Bộ chỉ huy Quân khu gồm: đồng chí Bằng Giang là Tư lệnh, đồng chí Tạ Xuân Thu là Chính uỷ. Đây là mốc son quan trọng, đánh dấu sự ra đời của LLVT Quân khu 2.

Trong 66 năm qua, mặc dù tên gọi của Quân khu qua các thời kỳ tuy có thay đổi nhưng về cơ bản địa bàn Quân khu lúc bấy giờ đã bao gồm 6/9 tỉnh so với ngày nay. Ngày 24-12-1993, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp có thư gửi Bộ tư lệnh Quân khu; vì Chiến khu 10 lúc bấy giờ đã có Bộ tư lệnh riêng. Ngày 08-9-1995, Bộ Quốc phòng kí quyết định số: 794/QĐ - BQP, công nhận ngày 19-10-1946 là ngày truyền thống của LLVT Quân khu 2. Ngày 19-10-1946, chính thức trở thành ngày truyền thống của LLVT Quân khu.

Sự ra đời của LLVT Quân khu 2 đã đáp ứng yêu cầu bức thiết của cuộc kháng chiến chống Pháp với nhiệm vụ trong giai đoạn này là tiếp tục đấu tranh giành chính quyền cách mạng trước khi địch kịp thiết lập chính quyền của chúng ở Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang; kiên quyết chặn đứng quân xâm lược Pháp, không cho chúng lấn chiếm, mở rộng phạm vi chiếm đóng; khai thông biên giới Việt - Trung; củng cố chính quyền, lực lượng vũ trang, các đoàn thể cách mạng, các tổ chức quần chúng, khắc phục nạn đói và các tệ nạn xã hội khác.

Chiến sĩ mới Đại đội 2, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 98, Sư 316 luyện tập kỹ thuật lấy đường ngắm cơ bản.

Sự hình thành và phát triển của Quân khu 2 trên địa bàn được coi là “ Tấm lá chắn”, là “phên dậu” của quốc gia dân tộc, mỗi giai đoạn lịch sử đều in dấu những chiến công chói lọi khẳng định niềm tin tất thắng của đội quân luôn “ Đi trước về sau”, chia lửa cùng đồng bào cả nước, đón nhận tình cảm yêu thương, đùm bọc của nhân dân, thực hiện lời thề giữ vững “Thành công cửa Bắc”. Đây chính là cơ sở tạo nên sức mạnh tinh thần, là giá đỡ, là bệ phóng vững chắc cho những chiến công lừng lẫy làm nên những chiến thắng vĩ đại của cuộc kháng chiến kiến quốc.

 Đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, nguyện theo lời kêu gọi của Bác Hồ “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lê”, cùng với quân và dân cả nước, LLVT Quân khu 2 tuy vừà mới thành lập nhưng với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã hoà vào làn sóng cách mạng đang dâng cao, sẵn sàng hiến dâng xương máu bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ Tổ quốc.

Thực dân Pháp với ý đồ “đánh nhanh, thắng nhanh”, “đánh một đòn chết tươi” tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực của ta, trên cơ sở đó hòng kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng, thu đông 1947 chúng đã kéo quân lên Tây Bắc. Trước tình hình đó, ngày 15-10-1947, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị: “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”. Chỉ thị đã trở thành mệnh lệnh hành động và ý chí quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta trên khắp các chiến trường. Vì địch xác định chiến trường chính nằm trên địa bàn Tây Bắc nên nhiệm vụ của Quân khu 2 rất nặng nề, LLVT Quân khu 2 là lực lượng chủ yếu trong trận quyết chiến này. Để chuẩn bị cho chiến dịch, Quân khu đã triển khai kế hoạch phối hợp với dân quân, du kích tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang tích cực phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu. Trên mặt trận Sông Lô, ta đã xây dựng các kè ở Chí Đám, Sóc Đăng ( Đoan Hùng) và Bình Ca ( Tuyên Quang ), bố trí lực lượng sẵn sàng chặn địch.

Tháng 10-1947, đoàn tàu chiến của Binh đoàn Com-Muy-Nan Pháp tiến dọc theo Sông Lô lên bao vây căn cứ địa cách mạng của ta. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, LLVT Quân khu và nhân dân địa phương đã mưu trí, táo bạo chặn đánh quân Pháp ở nhiều nơi như: Đoan Hùng (Phú Thọ); Bình Ca, Khe Lau (Tuyên Quang) đập tan cuộc hành quân lên Việt Bắc của địch. Tính tổng cộng trên mặt trận Sông Lô thu đông 1947, quân và dân Tây Bắc đã tiêu diệt hơn 1.000 tên địch, 10 tàu chiến, 1 ca nô, 1 thuỷ phi cơ, thu nhiều vũ khí đạn dược.

Chiến thắng sông Lô với những địa danh Bình Ca, Đoan Hùng, Khe Lau đã đi vào các tác phẩm văn học, nghệ thuật như: “Trường ca sông Lô” của Văn Cao, “ Lô Giang” của Lương Ngọc Trác... trở thành những thiên anh hùng ca bất hủ về tinh thần bất khuất của quân và dân Tây Bắc. Những chàng trai, cô gái Tây Bắc chân chất trong điệu khèn, điệu múa sạp, điệu xoè hoa hồn hậu bỗng hoá thân thành những anh hùng, trở thành nỗi khiếp sợ của bọn đế quốc, thực dân.

Trung Hiếu

Ý kiến của bạn
Họ và Tên:*
E-mail:*
Tiêu đề:*
Mã xác nhận:*

Nội dung:*
Đoàn cán bộ Quân khu 2 thăm và làm việc tại các tỉnh Bắc Lào
Từ mốc son lịch sử ra đời cho đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, LLVT Quân khu 2 luôn một lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong suốt những tháng năm đầy khó khăn, thử thách ấy, LLVT Quân khu đã được nâng cánh bay lên cùng với sự phát triển của đất nước, của Quân đội...