Sự việc - Suy ngẫm
Chuyện nàng công chúa Ngọc Hân
QĐND - Thứ Tư, 14/04/2010, 16:14 (GMT+7)

Bà là công chúa thành Thăng Long nổi tiếng về nhan sắc, thông minh và có tài văn thơ, một danh nhân văn hóa, đóng góp tác phẩm văn học có giá trị lịch sử cho kho tàng văn hóa dân tộc. Ngọc Hân nổi tiếng là công chúa có nhiều giai thoại dân gian được lưu truyền, kể về cuộc đời nhiều bí ẩn của bà...  

Lầu chuông - bia trong khuôn viên khu di lăng công chúa Ngọc Hân, ở Phù Ninh, xã Ninh Hiệp, Gia Lâm.  Ảnh: Anh Nam   

Lê Ngọc Hân (1770 – 1799) là công chúa, con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông, mẹ bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, quê ở Phù Ninh, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm. Ngọc Hân là hoàng hậu nhà Tây Sơn và một nhà thơ nổi tiếng cuối thế kỷ XVIII.

Năm 1786, Nguyễn Huệ (1753 – 1792) mang quân ra Bắc với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”, Ngọc Hân khi đó vâng mệnh cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ (hồi đó bà 16 tuổi, Nguyễn Huệ 34 tuổi). Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế trước khi ra Bắc lần thứ 3, mang quân đi đánh quân Thanh xâm lược. Ông đặt niên hiệu là Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu cung hoàng hậu. Năm 1789, sau khi đánh tan quân Thanh, ông phong bà làm Bắc cung hoàng hậu. Ngọc Hân có hai con với Nguyễn Huệ là công chúa Nguyễn Bảo Ngọc và hoàng tử Nguyễn Quang Đức.

Bà theo Nguyễn Huệ về sống ở Phú Xuân (Huế). Chuyện xưa kể lại, có lần Nguyễn Huệ hỏi vợ: “ ...con gái, con trai nhà vua đã có mấy ai được vẻ vang như nàng?”. Ngọc Hân khôn khéo đáp: “Nhà vua ít lộc, ai cũng thanh bạch nghèo khó. Chỉ riêng thiếp có duyên may lấy được lệnh công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay giữa trời được sa vào chốn lâu đài như thế này là sự may mắn của thiếp mà thôi...”.

Vua Quang Trung yêu quí Ngọc Hân không chỉ vì sắc đẹp, nết na mà còn thích công chúa ở tài cầm, kỳ, thi, họa và những kiến thức về thời cuộc. Người dân kinh thành Thăng Long còn nhớ mãi, vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789, sau khi đại phá quân Thanh, áo bào còn vương mùi thuốc súng, vua Quang Trung đã cho ngựa phi gấp, mang cành đào Nhật Tân vào kinh thành Phú Xuân, để báo tin chiến thắng cho công chúa Ngọc Hân. Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột băng hà, trong cảnh đau xót thương chồng, bà đã khóc và viết bài “Tế vua Quang Trung” và “Ai tư vãn” để bày tỏ lòng đau khổ và thương nhớ chồng. Câu thơ chứa đầy những lời lẽ tâm sự tha thiết, súc tích, làm rung động lòng người.

Tác phẩm thơ Nôm “Ai tư vãn” gồm 164 câu, thể song thất lục bát, nhắc lại mối lương duyên giữa hai người. Nguyễn Huệ ra Bắc với lý do tôn phù nhà Lê, Ngọc Hân vâng mệnh phụ hoàng lấy Nguyễn Huệ. Qua tiếng khóc chồng thống thiết, Ngọc Hân đánh giá cao sự nghiệp và nhân cách của Quang Trung, người anh hùng áo vải đứng lên cứu dân, cứu nước. Câu chữ đầy ắp nước mắt nỗi đau người vợ mất chồng, giọng văn não nùng gợi cảm, ngôn ngữ giản dị, mực thước: “Mà nay áo vải cờ đào/ Giúp dân dựng nước với bao công trình/ Mà nay lượng cả ơn sâu/ Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần/ ... Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc/ Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương/ Rút dây vâng mệnh phụ hoàng/ Thuyền lan, chèo quế, thuận đường vu quy/... ”. Bài thơ đã giúp người đọc có thêm tư liệu lịch sử và tìm hiểu thêm về cuộc đời vua Quang Trung, vị anh hùng dân tộc.

Sau khi nhà Nguyễn đánh đổ triều đình Tây Sơn, Ngọc Hân cùng hai con nhỏ bị bắt và bức tử chết ở Phú Xuân. Năm 1804, thân mẫu của bà đã vào Phú Xuân tìm được mộ con và hai cháu, bí mật chuyển về an táng ở quê nhà, kín đáo xây miếu thờ, làm bia giả và đổi họ tên làm mất dấu tích... Năm 1842, do có người tố giác, triều đình nhà Nguyễn biết được, vua Thiệu Trị đã ra lệnh đào bới, triệt phá miếu thờ và cho khai quật hài cốt mẹ con bà, đem đổ xuống sông Hồng. Chuyện dân gian lưu truyền lại, hôm thi hành án khắc nghiệt này, thuyền quan quân chở hài cốt mẹ con bà đang xuôi dòng, đoạn sông thuộc làng Ái Mộ, Gia Lâm, trời bỗng nổi lên một cơn bão lớn, sóng cuồn cuộn như thác ghềnh, như muốn nhấn chìm đoàn thuyền chở hài cốt. Quân lính trên thuyền thấy thuyền không thể vượt qua sông được, đành cho thuyền dạt vào bờ và ném vội hài cốt trên thuyền xuống dưới sông cho xong việc.

Thời ấy, nhân dân Ái Mộ thương xót bà, đã lặng lẽ bảo nhau đắp mộ đất và xây miếu thờ vọng ở chính đoạn sông này. Trải qua hơn hai thế kỷ, khu vực miếu thờ bà và cây đa bên cạnh thường xuyên bị lũ lụt tàn phá, làm sạt lở và bị nước cuốn trôi. Năm 1858, dân làng Ái Mộ cùng nhau công đức xây lại nơi thờ bà, chính là đền Ghềnh ngày nay. Trong đền, tượng công chúa Ngọc Hân được tạc theo chuyện kể lại về cái chết bi thảm của bà, tay bà cầm chén thuốc độc mà kẻ thù ép bà phải uống, như muốn nhắc lại cái chết bất tử của bà. Tượng Ngọc Hân được đặt thờ trang trọng ở nơi cung mẫu cao nhất, ở hậu cung còn có thờ bài vị công chúa, ngoài cửa cung treo đôi câu đối ca tụng công đức bà “Gò núi thiêng, gương bà họ Lê lưu truyền mãi” và “Mây nước độ trì, xây nên nền thi công bên sông Hồng”. Vào những dịp đầu tháng, lễ tết, nhân dân khắp nơi tìm về đền Ghềnh (nằm ngay cạnh chân cầu Chương Dương, Gia Lâm) thắp hương, tưởng nhớ đến bà công chúa nổi tiếng trong lịch sử giữ nước của dân tộc.

Hoàng Hiền 

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác