QĐND - Ngày tôi mười hai, mười ba tuổi, đang học cấp hai trường làng thì chị tôi đã là sinh viên năm cuối khoa văn trường cao đẳng sư phạm tỉnh. Mỗi dịp nghỉ hè hay về thăm nhà, chị thường đọc cho tôi nghe những bài thơ tình về người lính. Tôi chả hiểu gì về thơ nhưng nghe mãi cũng thấy hay hay nên nhập tâm lúc nào không biết. Những câu thơ ấy đến giờ tôi vẫn còn thuộc lòng: Ngày về phép anh cùng em dạo phố/ Tay chiến binh đan năm ngón tay mềm/ Em xót xa đời anh nhiều gian khổ/ Anh mỉm cười rồi nói- lính mà em!. Có khi nghe chị ngâm nga trầm bổng những câu thơ bằng giọng của một cô giáo tương lai, tôi trêu chị là lãng mạn, là đa tình khiến chị xấu hổ đỏ mặt rồi dọa từ nay không mua kẹo cho nữa nếu tôi còn phá đám.
Hè năm đó chị ra trường và được phân công về dạy học ở một ngôi trường ven biển. Chị hào hứng viết thư về cho gia đình kể chuyện những ngày đầu làm cô giáo thật vui khiến mẹ vừa buồn cười, miệng lẩm bẩm những câu như là lời mắng yêu quen thuộc.
Rồi một ngày cuối năm, chị về nhà cùng một anh bộ đội mang quân hàm màu xanh trên ve áo trông thật oách. Cả xóm tò mò nhìn theo đầy ngưỡng mộ. Anh là sĩ quan biên phòng, đóng quân ở một đồn duyên hải, gần nơi chị dạy học. Chuyện này chị đã báo và xin phép ba mẹ tôi đưa anh về ra mắt trong đợt nghỉ tết lần này, cả nhà ai cũng mong đợi, riêng tôi càng nóng ruột vì đã lỡ nói với mấy đứa bạn là ông anh rể có súng lục đeo xệ bên hông. Đó là do tôi tưởng tượng thế thôi chứ đâu đã nhìn thấy anh lần nào. Giờ đây thấy anh cao lớn, khuôn mặt sạm đen vì nắng gió biển khơi mà thương quá. Anh mặc bộ quân phục màu xanh gọn gàng, cơ thể cường tráng, vừa oai phong vừa thân thuộc vô cùng. Bên anh, chị tôi mảnh mai, dịu dàng, e lệ nhưng khuôn mặt hồng hào của một người đang hạnh phúc. Tôi xăng xái giành mang giúp anh chị túi đồ đầy bánh kẹo, mắt vẫn không quên nhòm ngó quanh người anh xem xét, nghi ngờ.
 |
| Minh họa: Lê Hải |
Khi anh chị vào đến ngõ, tôi hơi thất vọng vì nhìn anh mà chẳng thấy có súng, trái lại anh nở nụ cười trắng lóa và xoa đầu tôi khi thấy tôi phụng phịu ra mặt. Mẹ tôi bận bịu dưới bếp. Ba ngồi đĩnh đạc bên bàn tiếp khách quý. Ngày ấy, gia đình tôi nghèo lắm. Ba đi làm việc nhà nước với đồng lương khiêm tốn.
Mẹ làm ruộng lại hay đau ốm nên công sá chẳng được bao nhiêu, cuối vụ nhận về mấy chục cân thóc nên việc thiếu ăn xảy ra thường xuyên. Những lần như thế, mẹ lại cắp thúng sang nhà bác, lúc thì chục lon gạo, khi lưng lửng mớ khoai khô. Nhìn dáng mẹ liêu xiêu trong buổi hoàng hôn đổ sau lũy tre làng mà không khỏi chạnh lòng thương mẹ tảo tần vất vả với cuộc mưu sinh. Cũng vì hoàn cảnh mà chị em chúng tôi bảo ban nhau cố gắng học tập và ngoan ngoãn vâng lời ba mẹ để mẹ khỏi tủi thân.
Bác tôi làm nghề thợ mộc, quanh năm cắp hòm đồ nghề đi dựng nhà, làm cửa, đóng tủ to bàn nhỏ, ăn cơm thiên hạ đến mòn bát đũa lại mang tiền nong về nên gia đình bác có của ăn của để. Bác trai hiền lành và thương cháu, chỉ có bác dâu là người hay có tính đố kỵ, ghen ghét với gia đình tôi cho nên tôi vốn rất sợ bác.
Hôm nay là ngày đặc biệt nên bữa ăn có phần tươm tất và dĩ nhiên trên bàn ăn có cút rượu để ba và anh Tôn (anh tên là Tôn) nhâm nhi theo cách xã giao thông lệ. Bữa cơm diễn ra thật ấm cúng, thỉnh thoảng chị lại gắp thức ăn cho cả nhà, rồi chị nheo mắt nhìn tôi như chế giễu điều gì.
Một lúc sau, bà con hàng xóm kéo đến chật nhà, mọi người chuyện trò rôm rả. Anh kể chuyện thật hấp dẫn, đúng là sĩ quan chính trị có tài ăn nói. Chuyện thời sự, chuyện nhân tình thế thái, cái gì anh nói cũng hay khiến cô bác gật gù tán thưởng. Riêng tôi đứng ôm cột nhà hóng chuyện mà bụng lo vì không biết ngày mai phải đối phó với lũ bạn ra sao về chuyện anh rể tương lai không có súng lục.
Đang lúc câu chuyện đến hồi cao trào thì ngoài ngõ có tiếng đằng hắng rồi có bóng người xuất hiện. Bà bác tôi đến chơi. Bác nhìn anh chăm chú và thỉnh thoảng tham gia vài ba câu lấy lệ rồi ngồi đến tận khuya. Khi mọi người đã về hết thì nghe tiếng bác thẽ thọt:
- Chú thím coi thế nào về món nợ hôm trước, cuối năm cuối tháng rồi!
Đang buồn ngủ, tự nhiên tôi tỉnh hẳn. Chả là cách đó không lâu, mẹ tôi đọc thư chị viết về báo tin, đã sang nhà bác vay tạm ít tiền phòng khi có việc cần đến, bởi mẹ lo nếu cận tết sẽ xoay xở rất khó. Nhưng mẹ không ngờ bác đòi nợ sớm vậy, lại trong hoàn cảnh tế nhị này.
Không gian chợt chùng hẳn xuống, một thoáng im lặng trôi qua. Mắt tôi tự nhiên cay xè. Vẫn biết xưa nay bác là thế, đố kỵ và lèo lá. Bác không ưa gì chúng tôi vì chị em chúng tôi nhà nghèo mà học giỏi, còn mấy anh chị con bác thì chỉ biết ăn chơi phá phách nên bác ghen tỵ. Mẹ biết điều đó nhưng vẫn phải mượn tiền bác cũng là sự bất đắc dĩ. Đang lúc bối rối, tự nhiên anh Tôn hình như đã hiểu ra sự việc, anh tươi cười rót ly nước mời bác rồi nhẹ nhàng nói:
- Dạ thưa bác! Hôm nay cháu là khách trong nhà, nhưng cũng là cháu rể của bác nay mai, vậy cháu xin phép gia đình được gửi bác số tiền mà cô chú đây đã mượn, có được không ạ?
Rồi anh đưa tay rút ví đếm tiền, mặt vẫn thản nhiên như không.
Bác dâu tôi cụt hứng, miệng vẫn ngoen ngoẻn khen chị tôi tốt số, gặp được người chồng quá tuyệt vời nhưng trong đôi mắt ti hí của bác lại tối sầm vì đã không đạt được điều mình muốn.
Anh ở lại chơi với nhà tôi hai ngày nữa rồi xin phép trở lại đơn vị tham gia trực chiến, hẹn ba mẹ tôi sau tết sẽ cùng gia đình bên nhà anh bàn chuyện xin cưới chị. Cũng trong hai ngày ngắn ngủi ấy, khi biết lý do vì sao tôi không vui, anh cười xòa rồi an ủi:
- Súng là thứ vũ khí dùng để đánh giặc, chỉ khi nào thật sự cần thiết mới phải dùng đến nó, anh về quê thăm gia đình thì mang theo làm gì, nhưng nếu thích, anh sẽ dạy cho em vài miếng võ để phòng thân và cũng là để rèn luyện sức khỏe, sau này lớn lên rất có ích đấy, chịu không?
Tất nhiên là tôi đồng ý liền.
Ngày anh đi, chị và tôi tiễn chân anh một đoạn khá xa, lúc sắp lên xe, anh lại xoa đầu tôi bảo:
- Em cố gắng học hành cho tốt, lần sau về nhà, anh sẽ thưởng lớn, nghe chưa? Rồi anh âu yếm nhìn chị, tinh nghịch:
- Cô giáo dắt cậu em về đi, trực xong anh lại ra ngay mà!
Chị tôi dắt tay tôi quay về, mắt vẫn ngoái lại đằng sau cho đến khi bóng xe mờ dần trên con đường bụi đỏ quạch.
Nhưng đó cũng là lần cuối cùng, anh không bao giờ trở về nữa.
Chị tôi kể: Đêm 30 tết năm đó, anh trực chỉ huy. Khoảng gần Giao thừa, đơn vị nhận được tin báo có một nhóm người tổ chức vượt biên trái phép. Anh đã chỉ huy đơn vị ngăn chặn ngay. Khi tiếp cận mục tiêu thì nhóm người này đã lên thuyền và nổ máy lao đi. Anh dùng đèn hiệu ra lệnh dừng lại nhưng họ vẫn không chịu chấp hành, buộc anh phải dùng súng bắn chỉ thiên cảnh cáo và lên tàu đuổi theo. Biển đêm đen kịt và sôi sùng sục bởi tiếng gầm rú của động cơ được sử dụng hết công suất của hai chiếc thuyền rượt đuổi nhau. Người chỉ huy căng mắt theo dõi mục tiêu bằng cách quan sát luồng sáng của vệt nước do chiếc thuyền phía trước để lại. Con tàu vẫn giữ nguyên tốc độ lao vun vút trên mặt biển, có khi chao nghiêng vì những cú đánh tay lái của người chiến sĩ cầm lái. Gió ào ạt thổi, quất ràn rạt vào mặt đau rát nhưng các chiến sĩ vẫn kiên trì truy đuổi mục tiêu, nước biển mặn chát lẫn mồ hôi đổ dài trên những khuôn mặt căng thẳng. Khi cuộc đuổi bắt trên biển sắp kết thúc thì bỗng nhiên anh ôm ngực rồi lảo đảo vịn tay vào mạn tàu, tay vẫn cầm cờ hiệu chỉ về phía trước. Bọn người trên thuyền vượt biên đã nhẫn tâm xả súng bắn anh để hòng trốn thoát. Anh hy sinh khi những lời hẹn ước với chị còn dang dở.
Chuyện tình của chị và anh Tôn khép lại trong nỗi đau đớn như thế.
Hè năm đó tôi được ba mẹ cho vào thăm chị, thấy chị thơ thẩn một mình trên bãi biển, gió miên man gọi những con sóng vỗ bờ. Biển chiều nay dịu dàng và đằm thắm hơn mọi ngày. Ngoài xa, từng cánh buồm thấp thoáng như những chấm nâu nhỏ trên mặt biển bao la lộng gió. Chị tôi ôm bó hoa huệ trắng muốt, tay run run ngắt từng cánh hoa thả vào lòng biển cả, mắt nhòa lệ trong ráng chiều đỏ sẫm như muốn tìm về nơi đó một chút bình yên cho cõi lòng đỡ nhức nhối. Tôi chỉ biết lặng im dõi theo bóng chị lấp lóa trong bạt ngàn cát trắng và mênh mang biển trời.
Điều không ngờ nhất là sau đó ít lâu, chị tôi sinh em bé.
Gia đình tôi bị khủng hoảng trầm trọng vì ở nông thôn, chuyện chưa có chồng mà sinh con là một điều không thể chấp nhận được. Ba hết nhìn con gái lại nhìn mẹ buông tiếng thở dài. Mẹ bình tĩnh hơn, luôn an ủi và chăm sóc chị hết mực chu đáo. Chỉ có bà bác là phấn khởi ra mặt, luôn mồm kể chuyện, rêu rao khắp xóm chòm. Những ngày ấy, tôi chưa hiểu gì về những chuyện rắc rối của người lớn, nhưng không khí trong gia đình luôn nặng nề và buồn tẻ. Cũng thời gian đó, chị xin chuyển công tác về dạy học ở quê để tiện bề chăm sóc con nhỏ và tìm niềm vui với những cô cậu học trò dễ thương của chị. Chị tôi không lấy chồng, dù nhiều người thông cảm với hoàn cảnh của chị và có ý cùng chị xây dựng hạnh phúc nhưng chị luôn từ chối với những lý do chỉ có chị mới biết.
Đó là chuyện của hơn 20 năm về trước. Giờ đây, bé gái con chị đã vào đại học. Trông khuôn mặt xinh xắn của nó giống anh Tôn như hai giọt nước, mỗi lần gặp tôi là nó hay vòi vĩnh đòi cậu mua quà. Xoa đầu nó, tôi lại nghĩ về ngày xưa khi ba nó cũng dành cho tôi những tình cảm ruột thịt mà không khỏi nao lòng. Nhìn lên ban thờ nhà chị, hình ảnh người lính biên phòng đầu đội mũ kê-pi, quân hàm xanh trên ve áo, miệng mỉm cười như thể anh đang rất gần, gần lắm. Tôi kính cẩn thắp nén hương thơm, cúi đầu trước di ảnh, trong đầu vang lên lời nhắn: “Anh Tôn ơi! Chị và bé vẫn khỏe. Bé nay đã lớn rồi, nó luôn tự hào vì cha nó đã ngã xuống vì bình yên cho biển đảo quê hương”.
Truyện ngắn của Đinh Xuân Tiễn