PGS-TS Bùi Quang Thắng, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam:
“Tổ chức lễ hội truyền thống như là tổ chức sự kiện”
QĐND - Theo thống kê của ngành văn hóa, mỗi năm nước ta có đến trên dưới 8000 lễ hội lớn nhỏ, trong đó lễ hội thuộc loại hình dân gian truyền thống chiếm tới 80%. Lễ hội truyền thống là những sự kiện văn hóa có quy mô lớn, mang tính độc đáo, phù hợp với nhu cầu chính đáng của nhân dân. Tuy nhiên, trong những năm qua, đã phát sinh không ít vấn đề bất cập tại các lễ hội.
Nhân dịp đầu xuân năm mới, thời điểm các lễ hội bắt đầu vào mùa, Quân đội nhân dân cuối tuần đã có cuộc gặp gỡ cùng PGS -TS Bùi Quang Thắng, Trưởng ban Nghiên cứu văn hóa sinh thái và du lịch, Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam (VICAS). Cuộc gặp xoay quanh một số vấn đề về lễ hội.
Phóng viên (PV): Là một người “trong cuộc”, ông nhìn nhận vấn đề lễ hội truyền thống hôm nay như thế nào?
 |
|
PGS-TS Bùi Quang Thắng.
|
PGS-TS Bùi Quang Thắng: Tôi đã được VICAS giao cho tổ chức -phục dựng nhiều lễ hội truyền thống, ví dụ: Lễ hội của 5 làng ở Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc (lễ hội làng, đã thất truyền trên 50 năm); lễ hội Xuân Phả, Thọ Xuân, Thanh Hóa (Lễ hội làng, thất truyền gần 50 năm); lễ hội Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hóa; lễ hội Kiếp Bạc, Hải Dương; lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam; lễ hội Lảnh Giang, Duy Tiên, Hà Nam…
Từ những nghiên cứu thực nghiệm trên, tôi cho rằng, cần nhận diện chính xác vốn lễ hội truyền thống ở Việt Nam. Gần đây có nhiều ý kiến (kể cả báo giới lẫn các nhà nghiên cứu) cho rằng, lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại đang vận hành một cách hỗn loạn theo chiều hướng tiêu cực: Bị biến dạng, mất đi bản sắc và vì thế kém hấp dẫn. Tôi thì cho rằng, ý kiến kiểu này là không xác đáng, bởi sự nhầm lẫn căn bản: Họ luôn chỉ căn cứ vào những lễ hội truyền thống tiêu biểu, có bản sắc nhất trong kho tàng lễ hội Việt Nam để làm căn cứ nhận định, trong khi đại đa số các lễ hội truyền thống của ta ở các làng quê hầu như đang được bảo lưu một cách nghèo nàn, na ná nhau như chính nó vốn có.
Vì vậy, cần phải nhận diện kho tàng lễ hội truyền thống của ta chính xác hơn thì mới biết sự phát triển hay biến dạng của lễ hội ngày nay như thế nào.
Tôi đã thực hiện một số dự án tổng điều tra văn hóa phi vật thể ở một số địa phương như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh và TP Hội An. Những số liệu mà chúng tôi thu thập được đã phản ánh khá chính xác về vốn lễ hội mà các địa phương đã và đang có, những số liệu này cũng phản ánh khá trung thực chất lượng của những lễ hội này. Ví dụ ở Hà Nội, sự thực, tỷ lệ những lễ hội có chất lượng cao, có bản sắc chỉ chiếm số phần trăm rất nhỏ so với tổng số lễ hội của địa phương và số liệu này đã phản ánh tương đối đúng thực trạng chất lượng lễ hội làng của chúng ta từ xưa. Như vậy, bên cạnh những lễ hội đặc sắc và phục hồi lại những yếu tố văn hóa độc đáo đã bị thất truyền thì đại đa số lễ hội truyền thống của ta chỉ ở tình trạng “nhàn nhạt”. Nói một cách khác, thực trạng lễ hội mà nhiều người cho là bị “xuống cấp” hiện nay không phải là một sự biến đổi tiêu cực mà là bức tranh lễ hội “nguyên bản” của cha ông ta để lại.
Xưa, những lễ hội làng bình thường như vậy cũng là đủ để thỏa mãn nhu cầu của cộng đồng làng (thờ cúng các vị thánh hay thành hoàng làng mình, qua đó cố kết cộng đồng), nay nhu cầu mở lễ hội của các cộng đồng không chỉ dừng lại ở đó mà họ luôn mong muốn làm thế nào đó để hấp dẫn du khách ở các nơi về dự, vừa để làm cho làng mình ngày càng trở nên danh giá hơn, mặt khác cũng tạo cơ hội để nguồn thu từ di sản ngày càng tăng hơn.
Vấn đề được đặt ra rất rõ ràng là: Hoặc chúng ta bảo tồn lễ hội chỉ theo mô hình nguyên gốc - tức là chúng ta chấp nhận tình trạng “giậm chân tại chỗ” một cách nghèo nàn, đơn điệu của đại đa số lễ hội truyền thống ở Việt Nam; hoặc ngược lại, chúng ta phải tìm tòi, sáng tạo để canh tân, phát triển vốn lễ hội (là vốn văn hóa đầy tiềm năng) của mình.
Tôi cho rằng, với sự phát triển kinh tế xã hội ngày nay, với nhu cầu văn hóa - du lịch ngày càng tăng của các tầng lớp nhân dân, bên cạnh việc bảo tồn nguyên gốc những lễ hội truyền thống kinh điển thì việc phát triển những lễ hội truyền thống có tiềm năng là một mô hình bảo tồn tích cực để mang lại lợi ích cho các cộng đồng.
PV: Nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa - du lịch của cộng đồng, việc phát triển lễ hội truyền thống là hết sức cần thiết. Theo ông, vai trò của những yếu tố đương đại đứng ở vị trí nào trong lễ hội truyền thống?
PGS-TS Bùi Quang Thắng: Thứ nhất là tạo nên tính hoành tráng. Ngay cả khi chúng ta bảo tồn lễ hội theo mô hình bảo tồn nguyên gốc thì nhiều nghi thức, diễn xướng cổ truyền cũng được đương đại hóa, ít nhất ở số lượng người tham gia các nghi lễ hay diễn xướng đó.
Tôi lấy ví dụ một đám rước. Xưa kia, một lễ hội làng thì số lượng người rước cờ trong đám rước chỉ vào khoảng 20 người, đi hàng một. Ngày nay, một lễ hội làng bình thường cũng có ít nhất gấp đôi số lượng này và thường đi thành hai hàng. Những lễ hội cấp tỉnh thì số lượng người rước cờ này lên tới hàng trăm người (như lễ hội Tịch điền có 200 quân cờ theo đám rước, lễ hội Lam Kinh và Kiếp Bạc cũng vậy). Cùng với sự gia tăng số lượng của những bộ phận khác (đội Rồng, kiệu Thánh, các mâm lễ vật, trống chiêng, đại biểu các xã, các làng…) đoàn rước của các lễ hội truyền thống xét về mặt số lượng người tham gia đã hoành tráng hơn rất nhiều. (Đoàn rước của lễ hội Lam Kinh lên tới 600 người, ở lễ hội Tịch điền là 500 người, ở Lảnh Giang có 400 người tham gia đám rước).
Những đại diễn xướng mà số người tham gia lên tới hàng trăm người không chỉ làm cho lễ hội truyền thống có những điểm nhấn (có diễn xướng độc đáo) mà còn làm cho lễ hội truyền thống trở nên hoành tráng hơn. Ngoài ra, những yếu tố đương đại cũng đã tham gia vào hầu hết nghi trình của lễ hội từ khâu trang trí, tạo không gian đặc biệt cho lễ hội cho đến những kỹ thuật hiện đại về ánh sáng, âm thanh và văn hóa ẩm thực.
Thứ hai, yếu tố đương đại có thể tạo nên tính độc đáo cho lễ hội truyền thống. Số lượng lễ hội có tính độc đáo bởi những trò diễn độc đáo, hấp dẫn du khách rất ít ỏi. Trong khi đó, những lễ hội khác, không có tính độc đáo dễ bị hòa lẫn vào hàng ngàn lễ hội khác trên cả nước ta. Vì thế, khi tổ chức một lễ hội truyền thống nào đó, chúng ta phải lưu ý đến khả năng có thể tái dựng hoặc sáng tạo thêm những trò diễn / diễn xướng độc đáo để nó trở nên khác biệt với những lễ hội khác. Những sáng tạo này có thể theo thể thức và ngôn ngữ dân gian (tính tập thể, hành vi hướng thần, người dân tham gia trình diễn) nhưng cũng có thể là những sáng tạo dựa trên thể thức dân gian (hướng thần) nhưng ngôn ngữ lại là của nghệ thuật đương đại. Khi tổ chức các lễ hội khác nhau, chúng tôi đã sử dụng cả hai phương thức sáng tạo trên và chúng đều mang lại hiệu quả về tính độc đáo.
Xưa, các cụ đã tổng kết một câu để nói về sự thành công hay không của một lễ hội truyền thống: “Tả tơi xem hội”, không được vậy tức là hội nhạt. Vì thế, ngay ở trong cấu trúc của những lễ hội truyền thống kinh điển thì bên cạnh những lễ nghi nghiêm ngặt, những trò diễn /diễn xướng độc bản thì bao giờ cũng có vô số những trò vui khác (từ trò chơi dân gian đến văn nghệ dân gian, đến thi đấu thể thao và văn hóa ẩm thực). Nay, nguyên lý ấy vẫn hoàn toàn đúng đối với việc tổ chức các lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại, thậm chí nó còn trở thành nguyên lý quan trọng nhất dẫn đến sự thành công toàn diện của một lễ hội. Tuy nhiên, khách du lịch, đặc biệt là giới trẻ ở thành phố (với tính di động xã hội cao, học vấn cao, thu nhập cao) sẽ không thể thỏa mãn nhu cầu của mình nếu lễ hội chỉ có những trò chơi dân gian hoặc những trò chơi điện tử tầm thường, hoặc chỉ có những tiết mục văn nghệ, thể thao bình dân. Những thử nghiệm của chúng tôi ở lễ hội Kiếp Bạc, Tịch điền, Lảnh Giang về những festival nghệ thuật như là một festival ”phụ”, “bên cạnh” đã rất thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu văn hóa - nghệ thuật cho những người đi dự lễ hội, đặc biệt là giới trẻ. ở lễ hội Tịch điền, hội thi vẽ trang trí lên mình trâu thực chất là một festival nghệ thuật của các họa sĩ đương đại đến từ các miền của đất nước và nước ngoài. Qua 2 năm được tổ chức, festival này đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của người dân quanh vùng. Cứ tới ngày 6 tháng Giêng, hàng vạn người dân, báo giới đã tụ tập ở trước đàn tế Thần Nông để xem vẽ trâu và bình phẩm về các tác phẩm sống động này…
PV: Đưa thêm những yếu tố hiện đại vào lễ hội truyền thống, tạo ra những sản phẩm văn hóa “phụ” nhằm tăng sức hấp dẫn của lễ hội… đó có vẻ tương tự những kỹ năng tổ chức sự kiện hiện đại. Với kinh nghiệm tổ chức nhiều lễ hội lớn, theo ông, để tổ chức một lễ hội truyền thống thành công, các nhà tổ chức cần chú trọng những gì?
PGS-TS Bùi Quang Thắng: Tổ chức lễ hội truyền thống như một sự kiện không chỉ có nghĩa là nhà tổ chức tập trung kinh phí, trí tuệ, nhân lực vào công tác tuyên truyền, PR, tiếp thị, chạy tài trợ và quảng bá cho lễ hội trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trên internet… Đó chỉ mới là những kỹ năng truyền thông sự kiện. ở đây, nhà tổ chức còn cần phải có kiến thức về lễ hội truyền thống, có năng lực thẩm định nghệ thuật và tuân thủ quy trình của khoa học tổ chức sự kiện (từ khâu nghiên cứu, đánh giá hiện trạng về những tiềm năng, thế mạnh, cơ hội, thách thức, những điểm yếu… đến việc thảo luận để tìm ra ý tưởng độc đáo, đến khâu quản lý, điều hành, và những kỹ năng truyền thông đồng bộ khác như đã nói ở trên).
Trong các khâu, khâu quan trọng nhất chính là việc tạo ra được ý tưởng độc đáo, mới lạ và từ đó đưa ra được kết cấu chương trình lễ hội hợp lý. Những ý tưởng mà chúng tôi đưa ra làm nền tảng cho những lễ hội như Kiếp Bạc, Tịch điền hay Lảnh Giang đều có tính độc đáo, khác thường: Diễn xướng Hội thủy quân và festival hầu đồng ở Kiếp Bạc, hội vẽ trâu và lễ Tịch điền, diễn xướng “Bọc trứng và 3 ông rắn”… đều mới cả về hình thức lẫn nội dung, gây ấn tượng và tranh cãi, thu hút giới truyền thông và dư luận xã hội.
Về mặt kết cấu chương trình, bên cạnh những lõi văn hóa của lễ hội truyền thống, nhà tổ chức phải sáng tạo thêm những trò diễn, diễn xướng hoặc những festival nghệ thuật “bên lề” (fringe festival) (loại hình truyền thống hoặc đương đại) sao cho những sáng tạo ấy vừa mới (gây sốc càng tốt), vừa độc đáo (không đâu có), vừa hấp dẫn giới trẻ nhưng lại phải phù hợp với những điều kiện không gian, lịch sử và văn hóa của địa phương ấy.
Tóm lại, tổ chức lễ hội truyền thống như tổ chức một sự kiện là phải làm thế nào đó để một mặt tạo ra được những nét văn hóa độc đáo cho lễ hội truyền thống để tự những sự độc đáo về văn hóa này hấp dẫn giới truyền thông và du khách, mặt khác, phải chủ động trong công tác truyền thông, quảng bá, tiếp thị để lễ hội được truyền bá rộng rãi và tăng cường khả năng thu hút tài lực từ các nguồn khác nhau. Qua đó, sự kiện lễ hội vừa có thể quảng bá cho di sản vừa có nguồn tài chính để bảo tồn di sản mà không cần trông chờ vào nguồn kinh phí bảo tồn của nhà nước.
PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!
Minh Huyền thực hiện