Phỏng vấn trao đổi
Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung:
“Thơ phải tự mình trở thành nhân cách”
QĐND - Thứ Năm, 01/12/2011, 15:56 (GMT+7)

QĐND - Cuộc “Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung” vừa diễn ra tại Thanh Hóa đã thu hút sự quan tâm của đông đảo giới văn học cả nước. Tại hội thảo, đã có 35 bản tham luận được trình bày, khái quát toàn cảnh sự đổi mới và phát triển của thơ Việt Nam hiện đại.  Quân đội nhân dân Cuối tuần xin trích đăng một số ý kiến tại hội thảo, nhằm để bạn đọc có cái nhìn khái lược về thơ Việt Nam hôm nay.

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: Lạm bàn về thơ Việt hôm nay

Xin dùng chữ “lạm bàn” vì đã mượn hội thảo thơ miền Trung để nói về thơ Việt. Thêm một lẽ nữa, nói đến thơ Việt thì rất rộng lớn mà bài viết chỉ muốn đề cập một vài khía cạnh được cho là quan trọng.

1. Trước hết là lịch sử. Các nhà sử học hiện đại thường coi lịch sử dân tộc là lịch sử của lòng yêu nước và xem đó là “sợi chỉ đỏ” của hành trình dân tộc. Trong chừng mực nhất định, quan niệm đó không khỏi đơn giản hóa lịch sử.

Thơ ngày càng vắng bóng trong các hiệu sách. ảnh: Minh Thùy

Đành rằng chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc có ý nghĩa to lớn trong dựng nước và giữ nước. Tuy nhiên trong hàng ngàn, hàng vạn năm không có chiến tranh, trận mạc, lúc đó lòng yêu nước trở thành “viên ngọc quý, được cất giữ trong rương trong hòm”, thì cái mà người Việt vẫn dựa vào để tồn tại vững vàng qua mỗi ngày lại là nhân cách Việt. Đó là tất cả những giá trị giúp con người tồn tại như một nhân cách xứng đáng, trong khuôn khổ cộng đồng Việt, tạm gọi là nhân cách Việt. Theo tôi, nghĩa vụ của sử học, văn hóa học, văn học là làm sáng tỏ nhân cách Việt qua hàng ngàn năm lịch sử và văn hiến nước nhà, như chúng ta từng giải mã chủ nghĩa yêu nước dân tộc.

2. Ngày nay, nhân cách là vấn đề lớn của thời đại. Do thuận lợi của thời thế, một người bây giờ có thể hiểu biết rất nhiều, nhưng anh ta vẫn có thể không đủ nhân cách để làm điều tốt đẹp, nhiều khi còn làm điều xấu. Vì vậy, mệnh lệnh của thời đại là mệnh lệnh về nhân cách. Cái đập vào mắt mỗi người Việt Nam khi ra đường hôm nay là những vấn đề nhân cách. Nỗi lo âu của mỗi bà mẹ là sợ con hư. Nỗi sợ của người già là không tìm được sự cảm thông giữa các thế hệ. Nỗi sợ của nhà giáo dục là sợ học trò nói hỗn. Những cơ sở chăm lo cho nhân cách con người đều suy yếu, xuống cấp: Trường học, sách báo, nhà hát, vườn trẻ, các hội đoàn… Nỗi lo đè lên mọi người. Bảo vệ dân tộc trước hết là bảo vệ con người Việt Nam trên biên giới của nhân cách và mất nhân cách. Quả thật, những con người mạnh, một dân tộc mạnh chính là tư tưởng "sâu rễ bền gốc" của Đức Trần Hưng Đạo.

3. Thơ ca phải lên tiếng, phải đến với vấn đề nhân cách cá nhân, phẩm cách của dân tộc và phải tự mình trở thành nhân cách. Thơ Đường lớn không phải vì nó là đứa con của một thời đại thịnh trị, mà chính vì ở những đại diện lớn nhất của nó đã dám viết: “Cửa son rượu thịt ôi /Ngoài đường xương chết rét” (Đỗ Phủ). Đó là nền thi ca của những nhân cách và tài năng lớn. Đó là nền thi ca giàu phẩm hạnh.

Tôi tin thơ hiện đại Việt Nam nhất định sẽ vươn tới một sự kết tinh mới, bền vững trong sứ mệnh phát huy nhân cách Việt.

Nhà thơ Lê Thành Nghị: Thơ và công chúng hôm nay

Hình như thơ đang mất chỗ đứng trong ồ ạt của cạnh tranh thị trường và thế cũng có nghĩa đang mất chỗ đứng trong đời sống xã hội, cũng có nghĩa đang đứng trước một thảm họa của sự rẻ rúng, ghẻ lạnh, thờ ơ của công chúng, sự lãnh cảm mang tính cộng đồng. Điều đó rất đáng để bàn luận. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng này? Hãy bắt đầu từ nguyên nhân chủ quan.

Theo tôi, chất lượng thơ là yếu tố cần phải được xem xét đến đầu tiên. Ai cũng phải thừa nhận, kể từ sau đổi mới, chưa bao giờ thơ được in nhiều như vậy. Tuy nhiên, chất lượng mới là điều cốt tử. Nhiều bài thơ nhợt nhạt, quanh quẩn, ngô nghê, viết lấy được, cho đủ số bài, để khi in ra cái gáy sách không quá mỏng, được viết với một trạng thái vô cảm... vội vàng tập hợp lại để đi in, thành tập, thành tuyển tập nom thật oách, để kịp tặng bạn bè. Nhạt là căn bệnh phổ biến của thơ hôm nay.

Không phải trong vô vàn những tập thơ được in ra đều là thơ nhạt. Có điều thơ hay, thơ sâu sắc thường rất hiếm. Thơ hay hôm nay vừa hiếm lại vừa bị chen lấn, bị khuất lấp, bị đánh đồng với thơ dở.

Thơ không thể tồn tại mà không cần đến công chúng, nhưng công chúng hôm nay còn cần thơ nữa không? Nếu nói không cần thơ nữa thì không thể giải thích tại sao vẫn còn nhiều người làm thơ như vậy, không thể giải thích tại sao Ngày thơ Việt Nam những năm qua đông đúc như vậy! Nhưng nếu nói công chúng vẫn cần thì tại sao trong một xã hội hơn 80 triệu dân, một tập thơ chỉ in vẻn vẹn 300, 500 bản cũng không biết bán cho ai và tại sao trên thị trường sách, thơ lại mất chỗ đứng như vậy? Mặt khác, nhà thơ hình như không còn là một danh hiệu cao quý nữa, mà thật sự đã bị xuống giá trong cuộc sống hiện tại, đôi khi vẫn là đối tượng để chế nhạo của thiên hạ.

Tóm lại, thơ Việt đang trong cơn bĩ cực trên cả hai phương diện chủ quan và khách quan. Những gì là chủ quan luôn thuộc trách nhiệm của mỗi nhà thơ, những gì là khách quan phải chờ đợi một sự phát triển đồng bộ của xã hội, của chính sách xã hội, có điều chắc không phải ngày một ngày hai. Nhưng thơ vốn sinh ra để nuôi những niềm hy vọng của con người và những gì con người trông đợi không sớm thì muộn cũng sẽ đến.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: Hiện tượng vè hóa, văn xuôi hóa và cũ hóa thơ… cần báo động

Khi đánh giá về ngôn ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, tác giả đã đẩy ngôn ngữ bình dân lên ngôn ngữ bác học. Nhận định này đã gián tiếp phân cấp ngôn ngữ ca dao, hò vè với ngôn ngữ thơ. Tức là thơ cao hơn ca dao bình dân. Đó là một điểm rất đáng chú ý trong việc phân biệt thơ với các thể loại văn vần hay văn xuôi, từ, phú mà dân gian vẫn thường sử dụng. Như ta đều biết, thơ được xây dựng bằng một thứ “ngôn ngữ lạ hóa” mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc còn gọi là “ngôn ngữ quái đản” đã phát triển ở giai đoạn cao, chứa đựng các đặc tính không thể thiếu, đó là nhạc điệu, truyền cảm, hàm súc và giàu tính biểu tượng.

Nhưng thời đại thông tin công nghệ phát triển hiện nay, sự ngộ nhận về thơ xuất hiện nhan nhản trên thế giới ảo (và cả trên những bản in giấy), không những ít được các nhà phê bình chỉ ra bản chất thật giả của thơ mà còn được các cư dân mạng kém hiểu biết về nghệ thuật này tung hứng, chia sẻ không tiếc lời. Chính vì thế mà sự ngộ nhận về thơ ngày càng gia tăng hơn bao giờ hết.

1. Hiện tượng “vè hóa thơ”

Có lẽ “trường phái thơ Bút Tre” đã tạo được hiệu quả mạnh mẽ vài ba chục năm nay. Tôi còn nhớ năm 1984, đi cùng nhạc sĩ Văn Cao qua Vĩnh Phúc gặp nhà thơ Bút Tre, Nguyễn Thụy Kha nói: “Trường phái Bút Tre địch được trường phái Bùi Giáng trong Nam”. Nay nhìn lại thì thấy trường phái Bút Tre không những “địch được” mà còn đang thắng thế. Thật vậy, làng thơ hôm nay không chỉ có Bút Tre mà còn có cả Hậu Bút Tre: Bút Tre Trẻ, Bút Tre Xanh, Bút Tre Non, Bút Nứa, Bút Sậy, Bút Luồng, v.v… Trường phái này được nồng nhiệt đón nhận và ca ngợi không tiếc lời.

Vẫn biết văn học dân gian vô cùng đa dạng và thông minh, hóm hỉnh, nhưng văn học dân gian và văn học viết là hai phạm trù khác nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Dù có tạo ra những ảnh hưởng không dễ phân biệt, nhưng không bao giờ chúng chồng khít lên nhau. Bởi văn học dân gian sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ “thực dụng”, còn văn học viết sử dụng ngôn ngữ miêu tả và kể chuyện trong văn xuôi, hay ngôn ngữ “lạ hóa” trong thơ.

2. Hiện tượng “văn xuôi hóa thơ”

Không kể thời tiền sử sáng tạo ra lối kể chuyện thơ, thì thơ văn xuôi đã xuất hiện từ thế kỷ XIX ở phương Tây. Mãi đến cuối thế kỷ XX, câu chuyện thơ văn xuôi vẫn còn được tranh cãi nảy lửa. Theo một ý kiến được ủng hộ của Jean Claude thì “Bài thơ văn xuôi được cô đúc bởi đối tượng hỗn hợp và bất xác tín của ngôn ngữ thơ, trong khi đó, văn xuôi biến đổi đối tượng tiềm tàng (cô đúc) của nó để đặt nó vào cái thực tại hỗn hợp. Thơ xóa sạch mọi dấu vết hay dấu mốc nhận dạng, trong khi văn xuôi, ngược lại, nhân chúng lên gấp bội, bắt ốc vít bù loong chúng vào nhau thật chắc”. Nghe có vẻ phức tạp thế, nhưng cũng không khó hiểu, bởi thơ có đặc trưng của thơ và văn xuôi có đặc trưng của văn xuôi. Phân biệt các lãnh địa này, nhà ngôn ngữ Nguyễn Phan Cảnh cũng viết: "Tạo hình chủ yếu là vương quốc của văn xuôi nhưng có một khoảng trời dành riêng cho sử thi và thơ ứng dụng, còn biểu hiện, trước hết là lãnh địa của thơ nhưng lại cắt một phần đất cho văn xuôi trữ tình".

Tôi đồ rằng, nhiều nhà thơ “hiện đại” của ta chưa hiểu thấu điều đó, nhưng đã vội vàng nhảy vào thơ văn xuôi với những trường phái tân hình thức, hậu hiện đại của Tây của Mỹ nên đã mang đến một hậu họa cho thơ mà lại ngộ nhận rằng, mình đang song hành cùng thơ đỉnh cao thế giới. Tôi đã đọc nhiều thơ văn xuôi của các nhà thơ ta, cả trẻ lẫn già và tôi thử nối lại các xuống dòng thì thấy hầu hết đều là văn xuôi chứ không phải thơ, thậm chí lại còn lủng củng hơn cả văn xuôi. Ví dụ một đoạn thơ, tình cờ tôi mở ra trên bàn viết: “Anh bế em lên như bế cả con sông Hồng phù sa trần truồng tràn ra biển lớn một mùa màng phì nhiêu còng bóng mẹ gieo gặt. Những vì sao thiên hà rơi đầy mắt em mắt anh ướt lòe ánh sáng xua bóng đêm đè xuống vai ta rần rần châu thổ. Anh đi đây những thiên hà đang vẫy gọi anh…”.

Với lối nói ngoa ngôn mê sảng như vậy, nhà thơ có thể giết chết cả ngàn trang giấy mà chả biết để làm gì. Nhiều nhà thơ trẻ, nhà thơ già cũng đã được phủ dụ, ru ngủ bằng những trang văn xuôi như vậy mà tưởng mình là tiên phong thi sĩ. ở đây phải tỉnh táo mà nhận ra rằng, văn xuôi đang xâm thực thơ vô tội vạ. Đó chính là hành động “văn xuôi hóa thơ” hiệu quả nhất.

3. Hiện tượng “cũ hóa thơ”

Có một thực tế là những nhà thơ cách tân thường chạy theo cái mới, cái lạ, cái độc đáo chưa từng có, như muốn cắt đứt với quá khứ. Nhưng nghệ thuật lại có ký ức của nó. Ngay cả khi anh muốn làm một cuộc bạo động chữ thì cũng không thể cắt đứt với ký ức ngôn ngữ của chính nó. Còn khi anh đã cắt đứt hoàn toàn với ký ức nghệ thuật thì chính anh sẽ rơi vào khoảng chân không, xa rời ký ức của con người, và như vậy thì chỉ tạo ra những tác phẩm hoàn toàn xa lạ với cuộc sống. Đó chính là sự thất bại mà nhiều nhà cách tân cực đoan đã mắc phải.

Ngược lại, nhiều nhà thơ lại chỉ viết theo bản năng mà ít chú trọng đến sự nghiền ngẫm về văn hóa thơ quá khứ và hiện tại của nhân loại, nên cái anh tưởng là mới lạ lại hóa ra thành cũ kỹ đến sáo mòn. Đó là căn bệnh phổ biến của thơ ta gần đây. Nhan nhản những tập thơ vô thưởng vô phạt xuất hiện trong các giải thưởng, trên quầy sách, trên bàn thờ tổ tiên hay trên những trang mạng cá nhân. Đó là thứ thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, tưởng như vừa khai quật trong bãi thải của quên lãng. Có người biết điều đó và họ khẳng định họ không làm thơ mà chỉ ghi lại những cảm xúc cá nhân, in ra làm kỷ niệm. Nhưng cũng không ít người say mê với nó và tưởng mình không thua gì Nguyễn Bính, Hồ Xuân Hương khi được một số độc giả khen vuốt ve trên mạng ảo… Đối tượng này nhiều vô kể, thậm chí có thể che lấp cả những giá trị thơ đích thực không phải lúc nào cũng có. Đây cũng là nguyên nhân xói mòn giá trị của thơ, khi nó trở thành hiện tượng “cũ hóa thơ”.

Nguyễn Mỹ (lược ghi)

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác