QĐND - Nam Hán (905-971) là một tiểu quốc trong cục diện “Năm đời mười nước” của lịch sử Trung Hoa từ cuối thế kỷ 9 đến giữa thế kỷ 10.
Tuy chỉ có địa bàn chủ yếu là hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ, nhưng Lưu Ẩn, chúa tể đầu tiên và đặc biệt là Lưu Nham (còn có các tên gọi khác là Lưu Cung, Lưu Nghiễm), kẻ đầu tiên xưng đế hiệu và đặt quốc hiệu Nam Hán luôn tự hào và tự nhận là người nối nghiệp đế quốc của tổ tiên từ thời Lưu Bang dựng nên đế chế nhà Hán. Trong thời gian tồn tại ở 4 thế kỷ trước sau Công nguyên, đã hai lần phái các tướng Lộ Bác Đức (năm 111 trước Công nguyên) và Mã Viện (năm 43 sau Công nguyên) đều giương cờ “phục ba tướng quân” (tướng dẹp sóng gió), đem quân xâm lược nước Việt ta.
Theo cái “dớp” đó, Lưu Nham cũng hai lần xua quân xâm lược nước láng giềng phương Nam của y. Lần thứ nhất vào năm 930 và lần thứ hai vào năm 938. Lần thứ nhất, các tướng Lương Khắc Trinh (Lý Khắc Chính), Lý Tiến, Trần (Trình) Bảo… của Nam Hán đã bị Dương Đình Nghệ - hào trưởng Ấp Ràng (Dương Xá), Thanh Hóa - bằng “Trận quyết chiến chiến lược Đại La” năm 931 đánh cho đại bại. Còn lần thứ hai, vào năm 938 thì thực hiện sứ mạng lịch sử đó là Ngô Quyền.
 |
|
Bia di tích bãi cọc Bạch Đằng tại Yên Hưng, Quảng Ninh. Ảnh tư liệu
|
Bấy giờ - trước thời Lý, con đường cái quan từ biên giới Lạng Sơn đến trung tâm nước Việt cổ đại còn chưa được khai thông. Cho nên, nam chinh nước Việt, chỉ có một đường ven biển đông bắc đi xuống, rồi qua cửa sông Bạch Đằng mà vào cõi.
Tháng Chạp năm 938, Ngô Quyền đã chủ động đánh giặc ở nơi “Quan hà bách nhị” (cửa sông với thế hiểm, có thể hai người địch nổi trăm người) - như lời Nguyễn Trãi đã nói đó.
Bố trí một bãi chông khổng lồ gồm những chiếc cọc gỗ nhọn bịt sắt, đóng chìm nơi bãi sông cửa biển. Mai phục quân thủy bộ mé trong sông, chờ thủy triều lên thì khiêu chiến. Dụ đoàn chu sư địch tiến vào qua trận địa cọc ngầm, rồi đổ quân ra đánh dữ dội lúc thủy triều xuống, kết hợp sức tiêu diệt của những cây chông khổng lồ bịt sắt nhọn đội nước nhô lên đâm nát thuyền giặc. Với sức đánh bằng cung nỏ, giáo gươm của quân đội và dân binh ta, phá tan thủy đội giặc, giết chết cả chủ tướng Lưu Hoằng Tháo (con trai hoàng đế Nam Hán) tại trận. Và chỉ một trận, trong chưa đầy một ngày, giải quyết xong nhiệm vụ của cả một cuộc kháng chiến chống ngoại xâm - đó là trận Bạch Đằng của Anh hùng dân tộc Ngô Quyền, tháng Chạp năm 938.
Một truyền thống Bạch Đằng từ đây mở ra.
Bởi vì, lại nối tiếp cái “dớp” trước, triều đại nhà Tống (960-1279) lại cũng hai lần cử đại binh đánh nước ta. Lần thứ nhất, vào các năm 980-981. Lần thứ hai: 1076-1077.
Lúc nhà Tống đánh ta lần thứ hai thì con đường cái quan từ Lạng Sơn đến Thăng Long đã khai thông. Cho nên Nguyên soái Lý Thường Kiệt đã dùng “Phòng tuyến sông Cầu” để chặn giặc trên hướng đó, rồi hất ngược chúng về nước.
Nhưng còn lần đánh thứ nhất, con đường và hướng đi xâm lược đó chưa được mở. Vì thế, quân Tống dưới quyền chủ tướng Hầu Nhân Bảo vẫn phải dùng lại đường đánh nước Việt của quân Nam Hán 40 năm trước đấy. Và vì thế, vị Hoàng đế - thống soái, Anh hùng dân tộc Lê Hoàn cũng lại chọn Bạch Đằng “để làm một cõi chiến tràng/ xương phơi trắng đất, máu màng đỏ sông” như lời sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” đã viết.
Tuy nhiên, trận Bạch Đằng lần thứ hai này biến đổi khác thường. Tháng Tư năm 981, chọn cách đánh “đập nát đầu rắn”, quân ta đã dùng kế trá hàng, dụ Hầu Nhân Bảo đến một khúc sông hiểm, đổ ra đánh, bắt được chủ tướng giặc đem chém. Sau đó, truy đuổi các cánh quân giặc mất chủ tướng đang tháo chạy, hoặc tấn công các đạo binh còn cố chốt lại (như ở trận Tây Kết), hoàn thành vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Tống lần thứ nhất.
Hai thế kỷ sau, đến lượt đế chế Mông- Nguyên (1206-1369) không chỉ hai lần, mà đã ba lần đánh nước ta. Và trận Bạch Đằng lần thứ ba, vào tháng Tư năm 1288, chẳng những là trận quyết chiến chiến lược, kết thúc lần xâm lược thứ ba, mà còn đập tan cả ý chí xâm lược của giặc Mông-Nguyên, khiến chúng không bao giờ còn dám đánh ta lần nào nữa.
Đó là trận đánh mà thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo, tuy có dùng lại trận địa cọc Bạch Đằng và sức mạnh thủy triều của trận Bạch Đằng lần thứ nhất, nhưng đã đổi lại hướng trận: Chẹn đánh cánh thủy quân do hung tướng Ô Mã Nhi chỉ huy rút chạy từ trong cõi ra Biển Đông, không cho chúng thoát về nước được một phần lực lượng nào.
Vậy là đến đây thì truyền thống Bạch Đằng đã được tô đậm sắc nét đặc trưng cơ bản. Ấy là: Trên một đất nước không rộng lớn lại luôn có kẻ thù đến xâm lược, tất phải có nơi chiến trường được dùng đi dùng lại nhiều lần. Kẻ địch biết chắc: Hễ đến chỗ này là bị đánh, chúng tất rất đề phòng. Nhưng kết quả lại là: Đã vậy mà lần nào cũng bị thảm bại. Đó là do quân dân ta đã biết đánh một cách biến ảo khôn lường. Không lần nào giống lần nào. Mà lần nào cũng - như sử thần Lê Văn Hưu từng viết - “Mưu đã giỏi mà đánh càng hay vậy”.
GS Lê Văn Lan