Phân tích
Sự kiện 11-9 và cuộc đấu giữa giới học giả với quan chức Mỹ
QĐND - Thứ Năm, 15/09/2011, 9:46 (GMT+7)

Khi nhiều “cá lớn” định dạng

QĐND - Chiến lược an ninh mới của Mỹ dưới thời Tổng thống Ô-ba-ma (Obama) tập trung vào “chế ngự thách thức” (threat management) trong một trật tự thế giới mới. Thuật ngữ này được dùng để định hình sự chuyển hướng khỏi một chiến lược an ninh bó hẹp vào chống khủng bố hầu như chỉ bằng lực lượng quân sự dưới thời Bu-sơ (G.Bush).

Sau sự kiện 11-9-2001 (tổ chức Al-Qaeda tấn công lớn vào nước Mỹ), tháng 6-2002, Tổng thống Bu-sơ vạch ra những đường hướng mới cho Chiến lược an ninh của Mỹ là trả đũa các quốc gia thuộc danh sách “khủng bố”. Ông ta chủ trương “đưa chiến tranh đến tận sào huyệt của kẻ thù”. “Học thuyết Bu-sơ” đã sớm đẩy nước Mỹ vào hai cuộc chiến tranh ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, vào các hoạt động chiến đấu “cận biên” ở Pa-ki-xtan, và gần đây quân Mỹ có mặt ở Nam Y-ê-men.

Tháp đôi bốc cháy nhìn tại tượng Nữ thần Tự do. Ảnh: Trang Nguyễn

Sự sa lầy trên các chiến trường và suy thoái của nền kinh tế Mỹ cũng được xem là hậu quả của các chính sách kinh tế sai lầm của Bu-sơ, đã định hình một thế giới đa cực hơn, khi thế năng đứng đầu của Mỹ so với các cường quốc mới “trỗi dậy” ngày một giảm thiểu. Nga sử dụng công cụ “chống khủng bố” để lấy lại tiếng nói trong không gian chính trị hậu Xô-viết, ổn định sắc tộc, trấn áp các xu thế ly khai trong nước và trong khu vực. Trung Quốc tận dụng tốc độ phát triển để lên chiếu trên ở khu vực Trung Á sau một kỷ nguyên dài vắng mặt.

Khi quan hệ đồng minh rạn nứt

Cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu cho thấy, lần đầu tiên các đồng minh then chốt của Oa-sinh-tơn trong khối NATO mâu thuẫn với Mỹ rất gay gắt và có xu thế chia tách. Không chỉ các nước theo Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ, mà cả Đức và Pháp đều cho rằng bản chất của cuộc chiến chống khủng bố chỉ là Mỹ tìm cách kiểm soát nguồn dầu khí Trung Đông và duy trì bằng mọi giá “ngôi vương”[1].

Xung đột quân sự do phe Mỹ gây ra tại các nước Hồi giáo làm tăng hoạt động khủng bố của các phần tử cực đoan Hồi giáo (và của các phần tử bảo thủ cực hữu gần đây) ở các nước đồng minh châu Âu của Mỹ. Dư luận tiến bộ không nhìn nhận cuộc chiến tranh ở I-rắc là “tranh đấu” cho các giá trị dân chủ, như Bu-sơ tuyên bố, mà như một dạng mới của chiến tranh giành thuộc địa.

Các chính khách hàng đầu của Anh như cựu Giám đốc tình báo Anh cho rằng cuộc chiến chống khủng bố là “một phản ứng quá độ khổng lồ”. Ngày 15-1-2009, Bộ trưởng Ngoại giao Anh cho rằng xét cho cùng, khái niệm cuộc chiến chống khủng bố dẫn dắt lệch hướng và hoàn toàn sai lầm.

Ngay sau khi nhậm chức, ngày 25-3-2009, Tổng thống Ô-ba-ma biến “cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” thành “Chiến dịch hải ngoại bất thường” (Overseas Contingency Operation). Có thể xem đó là một nhìn nhận chính thức rằng khó có thể thắng kẻ thù Al-Qaeda bằng các biện pháp thuần túy quân sự. Nhưng có thể hiểu rằng hồi kết cho các hoạt động tác chiến kiểu này còn xa vời.

Giới chức và học giả ở Mỹ bất hòa

Khi gần như đồng thuận được rằng học thuyết “chống khủng bố” đổ bể cùng với tiên đề “đòn đánh phủ đầu”, thì các tranh cãi giữa giới chức và học giả vẫn kịch liệt quanh cuộc chiến tạm gọi là “chống chủ nghĩa khủng bố”, mặc dù nó chưa được gọi đúng tên. Trong các cuộc tranh luận này, giới chức bị các học giả công kích trong nhận thức về các chiến dịch ngoài nước. Nhưng dù thú nhận về một số sai lầm đã rõ ràng, một số quan chức vẫn triển khai các hướng mới cho  hoạt động viễn chinh đang, hoặc sắp diễn ra.

Bất tận những buổi cầu hồn cho nạn nhân “cuộc chiến khủng bố”. Ảnh tư liệu

Giới học giả, và nhất là thực tiễn, đã làm cho giới chức “hiểu” ra rằng “chống khủng bố” chỉ là một chiến thuật. Rằng kẻ thù của nỗ lực chống khủng bố không thể định dạng rõ ràng, dù Chiến lược an ninh của Ô-ba-ma mới xác định thêm được một nguy cơ nữa: các phần tử khủng bố trong lòng xã hội Mỹ, xã hội  phương Tây nói chung.

Giới chức cũng phân trần rằng vì Oa-sinh-tơn từng xem Al-Qaeda là có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có thứ bậc tôn ti dẫn đến lầm lẫn rằng, hễ phá được tổ chức này thì phần còn lại khắc sụp đổ. Các quan chức tình báo từng làm việc từ thời Bu-sơ như Giên Ha-man (Jane Harman) vẫn lập lờ tiết lộ rằng, đội ngũ khủng bố chắc đã biến thái thành các băng nhóm lỏng lẻo, không nhất thiết xưng danh là Al-Qaeda, trên khắp thế giới.

Các quan chức, nhất là những ai từng phục vụ dưới thời Bu-sơ, vẫn biện luận rằng các cuộc chiến tranh ở Á-ga-ni-xtan và I-rắc được tiến hành sau khi được Quốc hội Mỹ thông qua. Có quan chức vẫn đổ cho công tác tình báo yếu kém đã đẩy Bu-sơ (con) vào I-rắc. Còn các học giả như Thô-mát Phrít-man, nhà bình luận nổi tiếng của tờ The New York Times (Thời báo Niu Y-oóc), thì vẫn khẳng định trên kênh truyền thông toàn quốc của Hoa Kỳ rằng cuộc chiến ở I-rắc là do dầu hỏa Trung Đông, còn chiến tranh Áp-ga-ni-xtan là do Pa-ki-xtan sở hữu vũ khí hạt nhân[2].

Các quan chức như vẫn chưa vỡ được ra rằng vì sao lực lượng “khủng bố Hồi giáo vẫn lấy được quân”. Các công trình nghiên cứu của học giả phương Tây đã chỉ ra việc tra tấn các tù binh, thậm chí sự kỳ thị với người theo đạo Hồi là ngòi nổ cho tình trạng “khủng bố”. Công trình nghiên cứu của viện RAND, một cơ quan tham mưu chiến lược độc lập của Lầu Năm Góc từ thời chiến tranh Việt Nam khuyến cáo: “Giới quân sự Mỹ nên cố tránh khỏi bị các nhóm lợi ích lôi kéo vào các hoạt động tác chiến ở một số nước Hồi giáo, vì sự có mặt của quân đội Mỹ dẫn đến việc tuyển mộ quân lính vào hàng ngũ khủng bố càng tăng thêm”[3].

Khi được hỏi đã rút được bài học gì từ vụ 11-9, Giôn Nê-grô-pôn-tê, thành viên đoàn đàm phán Hoa Kỳ với Trung Quốc thời kỳ Thông cáo Thượng Hải 1972, lãnh đạo đầu tiên của ngành tình báo toàn quốc Hoa Kỳ (DNI), nhiệm kỳ 2005 – 2007 đã hồi tưởng lại Việt Nam trên nền hai cuộc chiến sa lầy ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan. Ông Nê-grô-pôn-tê cho rằng từ kinh nghiệm “Việt Nam hóa chiến tranh” cần phải ủy quyền cho Bát-đa và Ka-bun về lĩnh vực an ninh lãnh thổ và hoạch định chính sách. Điều này sẽ giúp Oa-sinh-tơn rảnh tay nghĩ ngợi các kế hoạch rút quân sớm, hiện đang là những khía cạnh nhạy cảm nhất, đau đầu nhất trong hành xử trên trường quốc tế của Mỹ[4](!).

Những nỗ lực của Mỹ xây dựng I-rắc thành một quốc gia năng động, “dân chủ kiểu Mỹ” để giúp Trung Đông soi vào đó mà tự chuyển đổi đã thất bại. Đài Phát thanh Hoa Kỳ còn đặt câu hỏi, phải chăng người Mỹ đã nhận thức được rằng, từ sau 11-9 đã lộ rõ những ranh giới cho các tham vọng Mỹ.

Nhưng phe cực hữu vẫn khẳng định cú hích cho “mùa xuân A-rập” đến từ sức quyến rũ của thế giới tự do, còn giới học giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu của các biến đổi ở châu Phi – Trung Cận Đông vẫn là “tức nước vỡ bờ”. Ách nô dịch hàng thập kỷ của các nhà cầm quyền độc tài (có cả những người “thân Mỹ”), lên ngôi nhờ các thế lực thực dân hoặc các cuộc đảo chính, trở thành đòn bẩy cho các biến động dây chuyền ở đây, khi “dân đen” đứng lên đòi quyền làm chủ đất nước quê hương.

Sống trong thấp thỏm

Hôm nay, người dân Mỹ hiểu rằng, cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố quy về nỗ lực ngăn chặn các phần tử Hồi giáo cực đoan thực hiện các mưu đồ như đánh bom liều chết. Nhưng nhiều người Mỹ còn sợ mưu đồ đánh bom, thảm sát của các phần tử bảo thủ hiếu chiến hơn là ngại các công dân Hồi giáo thường làm ăn chân chỉ, an phận. Vẫn rải rác những biểu hiện kỳ thị chủng tộc, tôn giáo bên cạnh xu thế chung không “vơ đũa cả nắm”. Cực điểm, như cựu lãnh đạo tình báo Nê-grô-pôn-tê đã nhận định là năm 2006 Hoa Kỳ đã ở bên bờ vực của nội chiến giữa các giáo phái.

Về các cuộc chiến không tuyên bố của quân Mỹ hôm nay ở Pa-ki-xtan và Nam Y-ê-men, chưa có câu trả lời rõ ràng cho người dân. Hoạt động dân sự Mỹ tại các điểm nóng “chống khủng bố” cũng trở thành mục tiêu cho phiến quân.

Những người làm khoa học và giáo dục cho rằng “con ngáo ộp khủng bố” cho phép cộng đồng tình báo và an ninh Hoa Kỳ (chẳng hạn Bộ An ninh nội địa “mọc ra” sau vụ 11-9) hưởng lợi nhờ những dự án “chống khủng bố”. “Các chính khách hiện không chịu đầu tư cho tương lai của dân tộc”, giới bác học Mỹ khuyến cáo.

Qua làn sóng điện Đài Phát thanh toàn quốc Hoa Kỳ nhân 10 năm sau sự kiện 11-9, người dân Mỹ bày tỏ sự buồn phiền do những chia rẽ hôm nay trong cộng đồng về lối sống, tư cách, đối nhân xử thế. Đây là điều làm tổn thương hương hồn những nạn nhân của tiến công khủng bố và những thân nhân của họ. Nguy cơ bị khủng bố, cả có nguồn gốc quốc tế lẫn nội địa và các biện pháp thắt chặt quá mức về an ninh đã làm thương tổn các giá trị dân sự của xã hội và đời sống tinh thần - văn hóa của công dân. Nhiều ý kiến kêu gọi củng cố niềm tin vào cộng đồng Hồi giáo ở Mỹ và các hành vi khoan dung đối với khác biệt về văn hóa.

Nhận định của các chính khách rằng cảm giác về an ninh hôm nay không tệ hơn trước khi xảy ra vụ 11-9 không có tác dụng trấn an. Đối với người dân thường Mỹ, sự kiện 11-9, bất luận là chỉ do Al-Qaeda hay còn do kẻ nào khác gây ra, vẫn là một bi kịch, biến dạng thành một thảm họa kéo dài và vẫn chưa có cách giải tương thích. Nó đã thay đổi thế giới quan nhận thức về mình và về các dân tộc khác của người Mỹ. Nó đặt cả nhân loại vào mối đe dọa nằm giữa hai luồng đạn của “trận chiến khủng bố” không giới tuyến.

Lê Đỗ Huy

[1]http://pewglobal.org/2007/03/14/americas-image-in-the-world-findings-from-the-pew-global-attitudes-project/

[2]http://www.npr.org/2011/06/28/137476934/drawing-lessons-from-9-11-ten-years-later

[3] http://www.rand.org/pubs/testimonies/CT314.html

[4]http://www.npr.org/2011/06/28/137476934/drawing-lessons-from-9-11-ten-years-later

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác