Phân tích
Vì sao Bác Hồ chưa rút lên ATK?
QĐND - Thứ Sáu, 13/05/2011, 18:22 (GMT+7)

QĐND - Trước ngày Toàn quốc kháng chiến cả tháng trời, các cơ quan xí nghiệp đã nhận lệnh tổng di chuyển ra khỏi Hà Nội, anh Cả Nguyễn Lương Bằng đi tiền trạm đặt An toàn khu (ATK) đã trở lại Thủ đô đón Bác. Người vẫn nấn ná ở ven đô, 4 tháng sau mới chịu chuyển lên Việt Bắc vì nhiều lý do.

Hy vọng ở lương tri người Pháp

Luật gia Lưu Văn Lợi có loạt bài viện dẫn các tài liệu chính thức của Bộ Ngoại giao Pháp và Phủ Cao ủy Đông Dương về cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” của thực dân Pháp ở Đông Dương đã bắt đầu như thế nào. Chúng tôi tham khảo thêm ý kiến ông về sự thật lịch sử Hồ Chủ tịch đã hết sức nhân nhượng nhưng phe chủ chiến đứng đầu là Đô đốc Đác-giăng-li-ơ đã qua mặt cả với một Chính phủ mà Thủ tướng luôn bị thay đổi.

Tướng Sác-lơ Đờ Gôn (Charles de Gaulle, 1890-1970) trước khi từ chức (1-1946) được Tổng thống Mỹ H. Tru-man bật đèn xanh, từng tuyên bố: “Chúng ta trở lại Đông Dương vì chúng ta là những người mạnh nhất”. Thế nhưng, cũng như sếp của mình, Đại tướng Lơ-cléc (Leclerc) được Đờ Gôn cử giữ chức Tổng chỉ huy Đội quân viễn chinh Viễn Đông đã có cái nhìn thực tế về nguy cơ mở rộng chiến tranh, nên không giấu giếm quan điểm của mình rằng “người Việt Nam hiểu chữ độc lập là tự trị” (self government) nên chấp nhận chữ tự trị, dành 3-5 năm thì giải quyết xong vấn đề Đông Dương. Vậy là sau việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Lơ-cléc phải về Pa-ri. Trung tướng Va-luy, Chỉ huy trưởng quân Pháp ở Bắc Đông dương đã trình Đác-giăng-li-ơ bản kế hoạch đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Nội...

Trái với thâm ý của viên Đô đốc “diều hâu”, mặc dù biết rằng chuyến đi là rất mạo hiểm, Hồ Chủ tịch vẫn tới Pa-ri với mục đích chính là nêu cao vị thế của nước Việt Nam mới với quốc tế và tranh thủ dư luận Pháp, kể cả các Thủ tướng người của Đảng xã hội vốn quen biết Nguyễn Ái Quốc là Bi-đô (Bidault, tháng 6-1946) và Lê-ông Blum (Leon Blum, tháng 12-1946).

Hà Nội đang “quyết tử”...

Nhật ký đường rút lên chiến khu của đồng chí Vũ Kỳ (1921-2005), thư ký của Bác Hồ còn lưu giữ trong Bảo tàng Hồ Chí Minh ghi rõ: Tối 26-11-1946 Người về thôn Hậu Ái xã Vân Canh, Hoài Đức ở nhà ông Nguyễn Thông Phúc. Ngày ngày từ tinh mơ, Bác đã có mặt tại số 8 Lê Thái Tổ làm việc riêng rồi ung dung tới Bắc Bộ Phủ. Ngài Xanh-tơ-ni (Sainteny) ngày 3-12 xem Cụ Hồ còn làm việc bình thường ở nhà số 12 Đại lộ Hăng-ri Ri-vi-e (Henri Rivière) (Ngô Quyền) hay không để thực hiện kế hoạch “cất vó” vào ngày 20 sau đó. Đêm, Bác về Vạn Phúc, ở nhà ông Nguyễn Văn Dương. Từ đây Người viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và chỉ thị cho Bộ Tổng chỉ huy đóng tại Thái Hà Ấp gấp rút triển khai phương án sẵn sàng chủ động nổ súng vào 20 giờ ngày 19-12.

Bác Hồ trên đường đi công tác Tuyên Quang (1951). Ảnh tư liệu.

Cả Hà Nội đứng lên, già trẻ, gái trai mỗi người mỗi việc cùng các đơn vị tự vệ đổ ra đường đào hào đắp lũy, nhà nhà khuân vác giường tủ, bàn ghế... ra phố dựng chướng ngại vật, đục phá tường thông nhà nọ sang nhà kia, tạo thành thế trận liên hoàn. Ông già bà cả, trẻ nhỏ nhanh chóng được tổ chức đi tản cư. Từ các đơn vị dân quân nhỏ lẻ lấy súng giặc đánh giặc, chỉ sau hơn nửa tháng, đến ngày 6-1-1947, Trung đoàn chính quy Liên khu I đã được thành lập, tới Hội nghị quân sự toàn quốc họp tại Chương Mỹ (Hà Tây) ngày 12 sau đó được mang tên Trung đoàn Thủ Đô.

Bộ binh Pháp ngày ngày nống ra ngoại ô. Máy bay quần thảo ném bom. Hà Đông, Chương Mỹ, Cầu Phùng... nằm trong tầm đạn pháo địch. Chúng đang chuẩn bị đánh lên Xuân Mai, uy hiếp thị xã Sơn Tây... Bác phải di chuyển luôn: Từ Vạn Phúc về Xuyên Dương (19-12/13-1-1947), xã Cần Kiệm (14-1/3-2-1947), rồi bộ phận bảo vệ đề nghị Người về núi Thầy thôn Sài Sơn, ở đây tương đối lâu (4-2/3-3-1947). Bác từng xuống sân đình chân núi tập đi xe đạp vài lần. Chính thời gian này, Người đặc biệt theo dõi từng ngày từng đêm các trận chiến đấu giành giật với địch từng ngôi nhà, góc phố trong nội đô. Vào dịp Tết Xuân Đinh Hợi, Bác gửi thư:

Cùng các chiến sĩ yêu quý Trung đoàn Thủ Đô.

Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và các nhân viên Chính phủ vì nhớ đến các em cho nên cũng không ai nỡ ăn Tết. Còn 90 phần trăm đồng bào ở hậu phương cũng giảm bớt 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để chuẩn bị công cuộc Trường kỳ kháng chiến.

Các em là đội quyết tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh...

Lời cuối thư của Người càng xúc động: Các em hăng hái tiến lên, Lòng già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em...

Rồi đó, theo lệnh Người, một kế hoạch bí mật đưa Trung đoàn qua bên kia bờ bắc sông Hồng được vạch ra và thực hiện trót lọt ngày 17-2-1947.

Đêm ngày tiếng bom đạn từ Hà Nội, các vùng quanh vẫn ì ầm dội về núi Thầy, Trung ương rất lo cho sự an toàn của lãnh tụ, song trong lòng Bác còn bao nỗi lo. Người vẫn nấn ná ở lại chùa Một Mái...

Vấn đề hậu phương và chính quyền

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lường trước mọi việc. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp không thể tránh khỏi sẽ là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn diện, gian khó và lâu dài. Việc lập căn cứ địa Người đã chỉ thị Ta sẽ trở lại Tân Trào. Nhưng nếu thế giặc mạnh liều lĩnh, thì hướng lùi là Tây hay Nam, các hậu cứ dự bị, hậu phương lớn...? Các đặc ủy viên phái đi các địa phương hồi âm về Đại bản doanh nhiều tin chẳng lành về lớp “quan cách mạng”, nhất là có số vốn là các quan xã, quan tổng, thổ ty lang đạo... Người cử các đặc phái viên tầm cỡ: Phạm Văn Đồng vào khu V, Hoàng Quốc Việt khu IV... Dù bận trăm công nghìn việc, lại rất mạo hiểm vì biết rất rõ mạng lưới gián điệp chìm nổi của Phòng Nhì Pháp giăng ra dày đặc, cố sức lần tìm từng bước đi của Bác, ngày 10-2-1947, Người vẫn về Nho Quan dự Hội nghị điền chủ toàn tỉnh Ninh Bình. Qua đây Bác càng khẳng định về thực trạng vùng tự do đang nảy sinh những bức xúc. Ngày 14-2-1947, Chánh văn phòng Bộ Nội vụ, Đặc phái viên Đặng Việt Châu tại Thanh Hóa nhận được điện: 1. Sẽ có Tối cao đặc phái viên Chính phủ vào Thanh kinh lý. Ngày vào định sau. 2. Châu chuẩn bị báo cáo các việc... 4. Chuẩn bị chỗ khai hội xa thành phố và giữ bí mật. 5. Phái bộ đi đêm, chuẩn bị đón ở đâu?...

Ông Nguyễn Hữu Văn (SN 1925) nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VII, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao kể lại, ông và ông Nguyễn Văn Lý (Thiếu tướng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh vệ Bộ Công an, tới ngày 6-3-1947 được Bác đổi tên Hoàng Hữu Kháng và ông Văn - Tạ Quang Chiến) được cử đi bảo vệ Bác suốt chuyến đi cùng lái xe Phạm Nguyễn Văn Nền. Chiều 19-2, chiếc xe Gíp được ngụy trang cẩn thận, 2 cận vệ được lệnh đem theo cả tiểu liên đưa Bác rời chùa Thầy ra đường 6A ra Xuân Mai, ngoặt trái đường 21 về Chi Nê, đêm nghỉ tại đồn điền ông Đỗ Đình Thiện từng làm thư ký cho Bác ngày Người sang Pháp. 3 giờ sáng Bác cháu lại lên đường đem theo một số xôi nếp đóng oản và muối vừng gia chủ đã chuẩn bị sẵn từ đêm cho bữa trưa 20-2 khi vào Thanh. Xe xuôi Nho Quan, đi Ghềnh vào Thanh...

Đi đón Chủ tịch nước bên Tỉnh ủy có ông Bùi Đạt, Chủ tịch UBHC tỉnh Lê Chủ và đặc phái viên Đặng Việt Châu. Ông Đạt được hỏi đã thưa, bên ủy ban triệu tập họp đại biểu nhân dân trước, cán bộ chủ chốt sau, địa điểm gần Rừng Thông. Bác nhận xét ngay: Đáng lẽ phải họp cán bộ trước, họp dân sau, bởi nhỡ ra trong dân có người vô ý làm lộ, bọn chỉ điểm báo máy bay đến thì làm sao. Người gợi ý: Đã triệu tập rồi, phải theo kế hoạch, nhưng đề nghị mời bà con lên rừng Thông bảo mật được đông người mà tàu bay địch có đến cũng dễ di tản...

Thanh Hóa là tỉnh đầu tiên của cả nước được Hồ Chủ tịch về thăm. Chuyến đi và hai cuộc gặp, bài nói chuyện ngắn của lãnh tụ cho đến nay sau 64 năm càng nổi bật tầm vóc chiến lược và ý nghĩa thời sự nóng hổi về phương pháp công tác sâu sát của người lãnh đạo, về những lời dạy mang tính kinh điển của Lê-nin mà Bác Hồ thường lấy đó để nhắc nhở là: Giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền càng khó hơn, mà bí quyết của “giữ” là tổ chức, tổ chức và tổ chức. Người nói... tỉnh Thanh Hóa theo tôi, muốn trở thành một tỉnh kiểu mẫu, nhất định được, vì người đông, đất rộng, của nhiều, chỉ thiếu sự điều khiển sắp đặt...

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói là làm. Ngày 21-2 về lại chùa Một Mái, Người ra sắc lệnh cải tổ UBHC Thanh Hóa: Chủ tịch ông Đặng Thai Mai, Phó chủ tịch Lê Chủ, Lê Kiều, Ủy viên Đặng Việt Châu... Riêng huyện tiền tiêu Nga Sơn đang là điểm nóng địch có thể đánh nống ra, Bác ký Sắc lệnh ngày 26-2 bổ nhiệm ông Phạm Văn Thân từ cán bộ Bộ Nội vụ làm Phó chủ tịch ủy ban huyện...

Trong Sổ vàng Di sản lịch sử Thanh Hóa còn ghi đậm lời Bác Hồ giải thích tỉnh kiểu mẫu là tăng gia sản xuất với Mục đích làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn khá giả thì giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ. Người nào cũng biết đoàn kết yêu nước...

Ngày 21 rời Thanh Hóa, Hồ Chủ tịch còn gửi thư cho đồng bào Thượng du của tỉnh và dự các cuộc gặp, chất vấn, thảo luận với các vị chức sắc công giáo, đại biểu giáo dân vùng Bùi Chu, Phát Diệm, cả giám mục Lê Hữu Từ cùng dự. Hoạt động này của Chủ tịch nước được coi là bước khởi điểm cho chủ trương quyết sách đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo - nhân tố quan trọng hàng đầu cho kháng chiến thắng lợi, giành độc lập và thống nhất thành công.

Nhật ký ngày 24-2 của cố Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến ghi: Ngày 22 hồi 3 giờ 30 phút, 8 chiếc máy bay khu trục Pháp đến tấn công. Thiệt hại không đáng kể ở nhà in Tiền, nhưng khu nhà ở của ông bà Đỗ Đình Thiện bị tàn phá nặng... (Phải nói bọn chỉ điểm khá tinh tường, song cả lũ quan thầy thực dân đã chậm chân).

Sau chuyến thị sát tại chỗ, về lại Sài Sơn, Bác yêu cầu Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam tổng hợp 31 điểm trong 10 câu hỏi điều tra tình hình mọi mặt trong công tác tổ chức quản lý của chính quyền, đoàn thể (chỉ đảng hoạt động bí mật) để ngày 1-3-1947, Người viết văn kiện lịch sử đầu tiên về phê bình xây dựng Đảng: Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ.

Ngày 4-3-1947, Bác Hồ chọn 8 cán bộ rút lên ATK, theo hướng Sơn Tây, Phú Thọ. Tại xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, Người đổi tên cho anh em theo mục tiêu: Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi (ngày 6-3-1947) và ngày 2-4 lên Tân Trào, ở tạm ít ngày tại làng Sảo.

Trịnh Tố Long
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác